04/11/2024
Di tích Khu mộ Nguyễn Thái Học và các chiến sĩ hy sinh trong cuộc khởi nghĩa Yên
I. Tên Di tích: Di tích lịch sử Nguyễn Thái Học, thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái.
II. Loại hình Di tích: Di tích lịch sử cấp Quốc gia.
III. Quyết định công bố Di tích: Quyết định số 177/ VH-QĐ, ngày 5/3/1990 của Bộ Văn hóa (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch).
IV. Địa điểm và đường đi đến Di tích:
Di tích khu mộ Nguyễn Thái Học và các chiến sĩ trong cuộc khởi nghĩa Yên Bái năm 1930, nằm trong khuôn viên công viên Yên Hòa (rộng 30 ha), bên cạnh đại lộ mang tên nhà yêu nước Nguyễn Thái Học, thuộc phường Nguyễn Thái Học, thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái. Ở vị trí này ta có thể đi đến Di tích bằng nhiều loại hình giao thông: Đường bộ, đường sắt, đường thủy.
V. Sơ lược lịch sử của Di tích:
Yên Bái là một tỉnh thuộc vùng trung du và miền núi phía Bắc, nằm trải dọc đôi bờ sông Hồng, được thành lập ngày 11 tháng 4 năm 1900, tỉnh Yên Bái được biết đến qua cuộc Khởi nghĩa Yên Bái của Việt Nam Quốc Dân Đảng vào thượng tuần tháng 2 năm 1930.
Khởi nghĩa Yên Bái có thể xem là một trang sử vẻ vang của dân tộc, biểu thị cho tinh thần tự do, bất khuất, không cam chịu ách nô lệ Thực dân của người Việt những thập niên đầu thế kỷ XX. Trong hệ thống các di tích lịch sử - văn hóa còn lưu lại trên đất Yên Bái, di tích khu mộ Nguyễn Thái Học và các chiến sỹ hy sinh trong cuộc khởi nghĩa Yên Bái được xem là di tích lịch sử tiêu biểu, được nhiều người biết đến và là niềm tự hào của lịch sử, du lịch và địa lý nhân văn nơi đây.
Trong hệ giá trị truyền thống dân tộc Việt Nam, yêu nước là giá trị nổi bật và cơ bản nhất, là “sợi chỉ đỏ” xuyên suốt lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc. Hòa mình vào dòng chảy đó, thời điểm đầu thế kỷ XX đã ghi dấu rất nhiều phong trào đấu tranh chống thực dân Pháp xâm lược, trong đó có Khởi nghĩa Yên Bái do tổ chức Việt Nam quốc dân Đảng lãnh đạo. Nhấn mạnh về tầm vóc và giá trị lịch sử cuộc khởi nghĩa Yên Bái, trong tác phẩm “Lịch sử nước ta” (năm 1941), Chủ tịch Hồ Chí Minh viết:
“Kìa Yên Bái, nọ Nghệ An
Hai lần khởi nghĩa tiếng vang hoàn cầu”.
Khởi nghĩa Yên Bái không chỉ là hành động yêu nước của những chiến sỹ Việt Nam Quốc dân đảng mà còn trở thành biểu tượng của tinh thần quật khởi và truyền thống đấu tranh anh dũng chống ngoại xâm của toàn thể dân tộc Việt Nam. Hành động yêu nước và khí phách chiến đấu thà chấp nhận hy sinh chứ không chịu khuất phục trước quân thù của những lãnh tụ như Nguyễn Thái Học, Phó Đức Chính, Nguyễn Khắc Nhu... đã góp phần to lớn vào việc thức tỉnh, giác ngộ tinh thần yêu nước và ý thức tự cường dân tộc cho các tầng lớp nhân dân.
Chúng ta có mặt tại Khu Di tích Lịch sử này để cùng thắp nén hương tri ân và ôn lại những giá trị truyền thống yêu nước, đóng góp to lớn của những Chiến sỹ đã chiến đấu với tinh thần quả cảm, quyết hy sinh vì độc lập, tự do cho dân tộc để chúng ta có được nền hòa bình như ngày hôm nay.
1. Khu di tích lịch sử
Nhằm lưu giữ những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc, ngày 5/3/1990, Bộ Văn hóa đã ban hành Quyết định số 177/VH-QĐ công nhận Di tích lịch sử khu mộ Nguyễn Thái Học và các chiến sĩ hy sinh trong cuộc khởi nghĩa Yên Bái là Di tích lịch sử cấp quốc gia. Khu Di tích lịch sử này nằm trong quần thể công viên Yên Hòa với diện tích gần 30ha nằm sát đường Nguyễn Thái Học phường Nguyễn Thái Học, thành phố Yên Bái. Khu Di tích được tỉnh Yên Bái khởi công xây dựng vào năm 2000 là nơi an nghỉ, ghi dấu tinh thần anh dũng quyết hy sinh vì độc tập, tự do của nhà yêu nước Nguyễn Thái Học và các chiến sỹ những năm đầu thế kỷ XX. Trong những năm qua, được sự nhất trí của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Ủy ban nhân dân tỉnh Yên Bái đã chỉ đạo các ngành chuyên môn và UBND thành phố Yên Bái tiến hành 05 đợt tu bổ, tôn tạo, mở rộng di tích đảm bảo theo đúng Luật Di sản và các quy định của pháp luật.
Hiện nay, Di tích lịch sử khu mộ Nguyễn Thái Học và các chiến sỹ hy sinh trong cuộc khởi nghĩa Yên Bái gồm các hạng mục: Khu Lăng mộ, khu tượng đài, nhà tưởng niệm, bia tưởng niệm, nhà đón khách và khuôn viên cây cảnh. Trong đó, phần chính là khu mộ có diện tích 300m2, có kiến trúc vừa hiện đại vừa truyền thống bao quanh là 17 cột trụ to, tròn, cao tượng trưng cho 17 chiến sĩ đã bị thực dân Pháp xử chém trong cuộc khởi nghĩa Yên Bái năm 1930, 17 cột trụ được này được nối với nhau bằng một vòng tròn khuyết với câu nói bất hủ của Nguyễn Thái học: “Không thành công cũng thành nhân”.
Bước vào khu mộ, bên phải là khối hình vát mô phỏng lưỡi máy chém của Thực dân Pháp được lát đá hoa cương đen, mặt trên ghi câu thơ của Nguyễn Thái Học đọc trước khi lên máy chém “Chết vì tổ quốc chết vinh quang”. Đối diện là Bảng vàng lưu danh 17 chiến sỹ an nghỉ nơi đây sau 02 đợt hành hình của Thực dân Pháp: Đợt 1 vào ngày 08/5/1930 có 04 chiến sỹ; Đợt 2 vào ngày 17/6/1930 có 13 chiến sỹ.
Tại đây, có 2 ngôi mộ tập thể là nơi yên nghỉ của các chiến sỹ:
Ngôi mộ thứ nhất: Gồm 4 chiến sỹ bị hành quyết ngày 8/5/1930 gồm: Ngô Hải Hoằng, Đặng Văn Tiệp, Đặng Văn Lương, Nguyễn Thanh Thuyết, đây là các ông cai phục vụ trong quân đội Pháp, nổi dậy trực tiếp chỉ huy đánh chiếm đồn Pháp.
Ngôi mộ thứ 2: Gồm 13 chiến sỹ bị hành quyết ngày 17/6/1930, là các yếu nhân của Việt Nam Quốc dân Đảng, trong đó có Nguyễn Thái Học và Phó Đức Chính…
Phần tượng đài có diện tích là 56m2, gồm 5 nhân vật lịch sử với chiều cao là 6m (với chất liệu bằng bê tông phủ kẽm) đứng trên một đám mây cách điệu, bao quanh chân tượng là nhóm phù điêu cao 3m. Các nhân vật trong nhóm tượng đài là: Nguyễn Thái Học, Nguyễn Khắc Nhu (hay cụ xứ Nhu), Phó Đức Chính, Ngô Hải Hoằng (cai Hoằng), Nguyễn Thị Giang
Nhân vật thứ nhất là Nguyễn Thái Học, được lấy nguyên mẫu từ bức ảnh khi ông là sinh viên thương mại, sáng láng trí tuệ, trẻ trung và đầy ý chí. Ông là linh hồn của tổ chức Việt Nam Quốc dân Đảng, trước khi lên đoạn đầu đài, thực dân Pháp bắt ông chứng kiến lần lượt 12 đồng chí của ông bị hành quyết. Dưới máy chém ông hô vang “Việt Nam vạn tuế”.
Nhân vật thứ 2 là Nguyễn Khắc Nhu sinh năm 1882, mất năm 1930 chỉ huy trực tiếp đánh đồn Hưng Hóa nhưng không thành. Quân Pháp đuổi bắt, ông nằm trên trái mìn tự tạo, giật nổ nhưng ông chỉ bị thương. Với ý chí không chịu sa vào tay giặc, về nhà lao Hưng Hóa, ông đã tự vẫn.
Nhân vật thứ 3 là Phó Đức Chính, sinh năm 1907, mất năm 1930, quê quán làng Đa Ngưu (nay thuộc xã Tân Tiến) huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên, người trực tiếp chỉ huy đánh Đồn Thông (Sơn Tây). Trước khi lên máy chém, người Pháp hỏi: “Anh chết trẻ, có ân hận không?”, Phó Đức Chính trả lời: “Sống làm người mong làm một việc lớn, việc không thành có gì ân hận!”.
Nhân vật thứ 4 là Nguyễn Thị Giang, thường gọi là cô Giang, sinh năm 1909, mất năm 1930, quê quán tại thị xã Phủ Lạng Thương, tỉnh Bắc Giang, người làm công tác binh vận, là vợ Nguyễn Thái Học. Bà không bị thực dân Pháp bắt và cải trang đi đến pháp trường chứng kiến sự hy sinh của các chiến sỹ, sau đó bà lẳng lặng quay về dùng khẩu súng ngắn của chồng tặng để tuẫn tiết theo chồng. Cô Giang để lại một bài thơ tuyệt mệnh rất cảm động. Chính vì thế mà cụ Phan Bội Châu đã viết bài văn tế cô Giang lên hàng nữ liệt của Việt Nam.
Nhân vật thứ 5 là Ngô Hải Hoằng đại diện cho lực lượng chủ yếu nổi dậy chống Pháp trong cuộc khởi nghĩa Yên Bái.
Lăng mộ và nhóm tượng đài đều hướng ra phía hồ Cô Giang, không bao giờ cạn nước, như lòng yêu nước mãi mãi dâng đầy.
Phía trên cùng là Khu Tưởng niệm sau khi được đầu tư tu bổ, tôn tạo mở rộng quần thể di tích gồm một số hạng mục quan trọng như: Nhà tưởng niệm, nhà đón khách, hạng mục sân vườn, khu vực mộ, tượng đài, và khuôn viên cây xanh… với cấu trúc đường nét hài hòa kết tinh được những giá trị truyền thống và hiện đại, khắc họa được tinh thần yêu nước quả cảm của các chiến sĩ gắn liền với tổ chức Việt Nam Quốc dân Đảng và Khởi nghĩa Yên Bái.
Đây là quần thể di tích liên hoàn với kiến trúc độc đáo, hài hòa trong không gian đô thị thành phố Yên Bái kết nối giữa quá khứ với hiện tại là nơi nhắc nhở mỗi người dân đất Việt về truyền thống yêu nước nồng nàn, ý chí đấu tranh quật cường vì độc lập tự do của cha ông.
2. khái quát về Nguyễn Thái Học và hoạt động của tổ chức Việt Nam quốc dân Đảng
Nguyễn Thái Học sinh năm 1901 tại làng Thổ Tang, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc. Xuất thân từ một gia đình trung nông, Nguyễn Thái Học từ nhỏ đã được đi học chữ Nho do một cụ tú trong làng dạy. Năm 1913, ông theo học trường sơ học Vĩnh Tường, rồi trường tiểu học Việt Trì. Trong thời gian học tại tỉnh nhà, Nguyễn Thái Học đã là một thanh niên yêu nước, có tư tưởng chống Pháp.
Sau khi tốt nghiệp trường Tiểu học, năm 1921, Nguyễn Thái Học thi vào trường Sư phạm Hà Nội. Trong mấy năm học tại trường này, Nguyễn Thái Học đã nhiều lần công khai phản đối các giáo viên Pháp. Chính Giám đốc An ninh Đông Dương, Louis Marty đã nhận xét: “Nguyễn Thái Học là một học sinh bướng bỉnh, hay cãi lại thầy giáo”. Cũng vì ghét thực dân Pháp nên Nguyễn Thái Học cũng ghét lịch sử Pháp, nhưng lại say mê học lịch sử Việt Nam và lịch sử cách mạng Pháp. Năm 1925, do một số bạn bè khuyên nhủ, Nguyễn Thái Học tham gia thi kỳ thi tuyển Thừa phái. Nhưng sau khi thi đỗ, ông không ra làm việc cho Pháp mà quyết định vào học trường Cao đẳng thương mại.
Trong các năm 1925, 1926, 1927, Nguyễn Thái Học đã gửi thư cho Toàn quyền Đông Dương Varen trình bày chương trình cải cách xã hội toàn diện của mình. Cũng trong thời gian đó, Nguyễn Thái Học đã viết một số bài gửi đăng báo với hy vọng bày tỏ các ý kiến cải cách trước quốc dân đồng bào. Nhưng tất cả những bức thư gửi cho các nhà chức trách của chính quyền thực dân đều không có kết quả. Từ đó, ông đi đến một kết luận là: chỉ có dùng võ lực đánh đuổi người Pháp ra khỏi đất nước thì mới mong giúp ích cho đồng bào.
Việt Nam Quốc dân đảng ra đời vào ngày 25- 12- 1927, là sự hợp nhất hành động giữa các nhóm yêu nước của Nguyễn Thái Học ở Hà Nội, Nguyễn Thế Nghiệp ở Bắc Ninh và Hoàng Văn Đào, Hoàng Văn Tùng ở Thanh Hóa... Nguyễn Thái Học được bầu làm Chủ tịch Đảng. Quốc dân Đảng nêu rõ mục đích: “Liên lạc tất cả anh em đồng chí không phân biệt giai cấp, tôn giáo, dùng vũ lực để lấy lại quyền độc lập cho nước Việt Nam”.
Sau khi được thành lập, Việt Nam Quốc dân đảng bắt đầu phát triển trong giới thân hào, thân sĩ, nhà nho, chức dịch các làng xã, binh lính Việt Nam trong quân đội Pháp, trí thức tiểu tư sản, tư sản dân tộc. Đặc biệt là sự hợp nhất giữa Việt Nam Quốc dân đảng và phái Việt Nam Dân quốc của Nguyễn Khắc Nhu ở Bắc Ninh đã làm cho công tác phát triển đảng thu được nhiều kết quả. Song song với công tác phát triển đảng, Nguyễn Thái Học cũng nhờ người đi liên hệ với các đảng cách mạng khác như Tân Việt Cách mạng đảng, Việt Nam Cách mạng Thanh niên nhằm đi tới thống nhất các lực lượng cách mạng trong nước.
Đầu năm 1929, tổ chức Việt Nam Quốc dân đảng đang trên đà phát triển thuận lợi thì xảy ra vụ ám sát Bazin (9- 2- 1929). Nhân cớ đó, thực dân Pháp đẩy mạnh đàn áp, phá vỡ tổ chức của Đảng. Nhiều đảng viên của Việt Nam Quốc dân đảng bị bắt. Trước tình thế này, Việt Nam quốc dân Đảng đứng đầu là Nguyễn Thái Học đã quyết định tổ chức cuộc khởi nghĩa ở Yên Bái và các tỉnh phía Bắc với tinh thần: “Không thành công cũng thành nhân” và nếu có “chết đi thì cũng để cho thế giới biết rằng tinh thần dân tộc đang còn sống”
3. khái quát về khởi nghĩa Yên Bái
Yên Bái nằm sát đường biên giới Việt - Trung có một vị trí chiến lược quan trọng. Vì vậy, đây là một trong những địa điểm được lựa chọn để tiến hành khởi nghĩa ngay từ đầu của Việt Nam Quốc dân đảng. Sau một thời gian gấp rút chuẩn bị lực lượng, cho đến sát ngày 9-2-1930, mọi công việc chuẩn bị cho khởi nghĩa đã tương đối hoàn thành. Tuy nhiên do nắm được kế hoạch Tổng công kích của Việt Nam Quốc dân đảng cũng như toàn bộ thời gian, kế hoạch của khởi nghĩa Yên Bái nên thực dân Pháp đã chú ý tăng cường đề phòng nghiêm ngặt.
Vào 1 giờ sáng 10-2-1930, dưới sự chỉ huy của Nguyễn Văn Khôi, Ngô Hải Hoằng, quân khởi nghĩa đã nổ súng tấn công đồn binh Yên Bái. Do chưa được chuẩn bị chu đáo về mọi mặt lại vấp phải sự đề phòng từ trước của quân Pháp nên cuộc khởi nghĩa đã không diễn ra đúng như dự tính. Sau vài giờ chiến đấu, nghĩa quân đã nhanh chóng chiếm được Đồn Dưới và kho vũ khí, đồng thời giết và làm bị thương được một số sỹ quan và hạ sỹ quan Pháp, nhưng không chiếm được Đồn Cao. Sau đó, nghĩa quân chia nhau đi chiếm nhà ga và một vài cơ quan trong tỉnh lỵ Yên Bái như Sở Bưu điện, trại lính lê dương..., đồng thời hô hào và phát vũ khí kêu gọi nhân dân hưởng ứng khởi nghĩa.
Ngay khi cuộc khởi nghĩa bùng nổ, Công sứ Yên Bái đã chạy xuống Sở Lục lộ rồi ra ga xe lửa đánh điện gấp báo về Hà Nội. Đúng 8 giờ sáng ngày 10-2-1930, được sự yểm trợ của máy bay từ Hà Nội lên, lực lượng còn lại của quân Pháp đã cùng với lính lê dương tổ chức phản công quyết liệt. Toàn bộ nghĩa quân còn lại của Việt Nam quốc dân Đảng tại khu trại lính đều bị bắt, thị xã Yên Bái lại thuộc quyền kiểm soát của địch. Cuộc khởi nghĩa của Việt Nam Quốc dân đảng tại đây đã bị thất bại hoàn toàn.
Sau khởi nghĩa Yên Bái, các cuộc khởi nghĩa ở một số địa phương đã nổ ra như: Hải Dương, Phụ Dực (Thái Bình), Vĩnh Bảo (Hải Phòng) Thực dân Pháp truy lùng Nguyễn Thái Học một cách gắt gao và bắt được ông vào ngày 20/2/1930, tại ấp Cổ Vịt (nay thuộc xã Cộng Hòa, Chí Linh, Hải Dương) và đem về giam tại ngục thất Hỏa Lò, Hà Nội.
Ngày 23- 3- 1930, trước Hội đồng đề hình họp tại Yên Bái, Nguyễn Thái Học đã nhận hết trách nhiệm về mình và tìm cách biện minh cho hành động của tổ chức Việt Nam Quốc dân Đảng. Nhưng Hội đồng đề hình không cho ông nói và quyết định tuyên án tử hình Nguyễn Thái Học. Ngày 17- 6- 1930, thực dân Pháp đã hành hình Nguyễn Thái Học cùng 12 yếu nhân khác của Việt Nam Quốc dân đảng tại Yên Bái.
Để ghi nhớ công lao của Nguyễn Thái Học, ngày 24/2/1976, Nhà nước đã truy tặng chiến sĩ yêu nước Nguyễn Thái Học danh hiệu Liệt sĩ. Tại Di tích khu mộ Nguyễn Thái Học và các chiến sỹ hy sinh trong cuộc khởi nghĩa Yên Bái với những công trình như: Khu Lăng mộ, tượng đài, nhà tưởng niệm, bia tưởng niệm... là minh chứng lịch sử về tinh thần yêu nước đồng thời trở thành một địa chỉ đỏ để giáo dục các thế hệ trẻ tìm hiểu truyền thống, lịch sử, qua đó bồi đắp tinh thần yêu nước và lòng tự hào dân tộc.
Đại văn hào nổi tiếng người Liên Xô - Aleksey Nikolayevich Tolstoy từng viết: Năm tháng rồi sẽ qua đi, các cuộc chiến tranh sẽ im ắng dần và những cuộc cách mạng cũng sẽ thôi gào thét! Nhưng khởi nghĩa Yên Bái với những giá trị lớn lao về nhân văn, lịch sử vẫn sống mãi trong tâm thức hàng triệu người dân. Đến Yên Bái, thăm Di tích, im lặng nghe tiếng vọng của thời gian, cúi mình ngưỡng mộ trước tấm gương hi sinh anh dũng của lãnh tụ và các yếu nhân của Khởi nghĩa Yên Bái, chúng ta sẽ càng hiểu hơn những giá trị trường tồn, bất diệt của dân tộc.