TP. Yên Bái: ĐIỂM HẸN LÝ TƯỞNG - HẤP DẪN

TP. Yên Bái: ĐIỂM HẸN LÝ TƯỞNG - HẤP DẪN Contact information, map and directions, contact form, opening hours, services, ratings, photos, videos and announcements from TP. Yên Bái: ĐIỂM HẸN LÝ TƯỞNG - HẤP DẪN, Travel and transport, Phố Yên Lạc, Yên Bái.

Di tích Đền Tuần Quán, phường Yên Ninh, thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái1. Tên Di tích- Di tích lịch sử - văn hóa đền ...
05/11/2024

Di tích Đền Tuần Quán, phường Yên Ninh, thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái
1. Tên Di tích
- Di tích lịch sử - văn hóa đền Tuần Quán, phường Yên Ninh, thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái.
- Tên gọi khác: Đền thần Diệp Phu Nhân Bách Lẫm; Đền Vệ Quốc; Đền Quốc Mẫu Thánh Ân.
2. Loại hình Di tích
Di tích lịch sử - văn hóa cấp tỉnh.
3. Quyết định công bố Di tích
Quyết định số 41/QĐ-UBND ngày 4/2/2005 của Ủy ban nhân dân tỉnh Yên Bái công nhận đền Tuần Quán, phường Yên Ninh, thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái là Di tích lịch sử - văn hóa cấp tỉnh.
4. Địa điểm và đường đến Di tích
Đền Tuần Quán tọa lạc ở ngay nơi hợp lực của ngòi Tuần Quán và sông Thao (tức sông Hồng) phường Yên Ninh, thành phố Yên Bái, cách ga Yên Bái 2,5 km và UBND phường Yên Ninh 1,5 km đường chim bay về phía Nam.
- Đến di tích bằng đường sắt: Quý khách đi tàu Hà Nội - Yên Bái xuống ga Yên Bái đến bến xe rẽ phải theo con đường Hồ Xuân Hương dọc đường sắt, ven sông Hồng khoảng 1,8 km là đến địa điểm Di tích.
- Đường bộ: Xuống ga hoặc bến xe Yên Bái đi xuôi con đường trải nhựa vào trung tâm tỉnh, đến ngã tư km2 rẽ phải gần 2 km là tới địa điểm Di tích. Hoặc đến km4 đường Yên Bái - Hà Nội, đến nhà máy Sứ rẽ phải, rồi lại rẽ trái lần nữa khoảng 600m là tới địa điểm Di tích.
- Đường thủy: Từ bến đò Bách Lẫm đi xuôi sông Hồng khoảng 1km là đến bến cửa Di tích.
5. Sơ lược lịch sử Di tích
Theo sách Hưng Hóa Phong Thổ Lục triều Lê và Đại Nam Nhất thống chí triều Nguyễn thì Đền Tuần Quán có tên gọi "Đền thần Diệp Phu Nhân Bách Lẫm". Trong sắc phong được các quan và nho sĩ sử dụng là "Đền Quốc Mẫu Thánh ân Bách Lẫm". Trước thế kỷ 19, dân gian thường gọi "Miếu Quán Tuần". Từ cuối thế kỷ 19 cho đến nay, đền chính thức có tên là "Đền Tuần Quán".
Đền thuộc tổng Bách Lẫm, huyện Trấn Yên, tỉnh Hưng Hóa, nay thuộc phường Yên Ninh, thành phố Yên Bái. Đền còn có tên gọi khác là Đền thần Diệp phu nhân Bách Lẫm và đền Vệ Quốc. Lịch sử ghi lại: Đền có từ đầu thế kỷ 15. Đền thờ mẫu Liễu Hạnh, tương truyền bà chính là Quỳnh Hoa công chúa giáng trần đã có công “Hộ quốc tý dân”. Liễu Hạnh đã lên Yên Bái, hiển ứng ở đền Tuần Quán hóa thành bà già chữa bệnh cho dân, cứu giúp người hoạn nạn, trừ bạo, đem lại sự công bằng cho dân. Vì vậy, vua Lê Hiển Tông năm Cảnh Hưng 44 đã ban cho sắc phong là “Đức chúa Quốc Mẫu Hoàng Ân Phương Dung” và được nhân dân tôn là Thánh Ân thờ tại đền Tuần Quán.
Trải qua các thời kỳ lịch sử, đền không chỉ là nơi sinh hoạt văn hóa tâm linh của các tín đồ phật tử thập phương mà còn trở thành nơi ghi dấu những sự kiện, những mốc lịch sử quan trọng của đất nước gắn liền với tên tuổi các anh hùng dân tộc. Theo “Hồ sơ Di tích đền Tuần Quán” có ghi thì vào chiều 9/2/1930, các chí sĩ yêu nước của Việt Nam Quốc dân Đảng thuộc Chi bộ Xuân Lũng (Phú Thọ) đã đóng giả làm người hành hương mang theo súng đạn, dao và bom tự tạo hòa vào dòng người trảy hội đền Tuần Quán vào đền bái lễ để bàn kế hoạch khởi nghĩa Yên Bái và đúng 10h đêm ngày hôm sau thì cuộc khởi nghĩa Yên Bái nổ ra.
Năm 1940, đồng chí Hoàng Văn Thụ - Ủy viên Thường trực Trung ương Đảng và đồng chí Bùi Đức Minh đã đi tàu và xuống ở khu vựcTuần Quán vào lưu trú ở đền. Từ đây hai đồng chí đã sang Vân Nam - Trung Quốc gặp Bác Hồ. Đền là nơi thông tin cho nhân dân biết nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa được thành lập vào ngày 2/9/1945 và cũng là nơi được chọn làm chi nhánh quyên góp trong “Tuần lễ vàng” ủng hộ kháng chiến của Chính phủ. Tháng 7/1946, đền là điểm hội quân của nhiều đơn vị Vệ quốc đoàn Chiến khu I trước khi tấn công bọn phản động Việt Quốc, giải phóng hoàn toàn tỉnh lỵ. Từ năm 1947 - 1954, đền là khu vực nằm trong tuyến phòng thủ quân sự quan trọng bảo vệ thị xã Yên Bái (nay là thành phố Yên Bái).
Theo thời gian, do chiến tranh và những biến cố thăng trầm của lịch sử đã khiến cho ngôi đền bị tàn phá và hư hại nhiều. Giữ gìn và phát huy những giá trị văn hóa của dân tộc, năm 1998, đền Tuần Quán đã được UBND tỉnh cho phép trùng tu, tôn tạo và xây dựng lại trên nền đất cũ, có tổng diện tích khuôn viên 1.660m2.
6. Các nhân vật được thờ tự
Đền thờ thánh Mẫu Liễu Hạnh (vị thần cao nhất ở đền Tuần Quán); Lẫm Sơn Công chúa Khâm Sai; Ngũ vị tôn ông; các ông Hoàng; Thánh trần Hưng Đạo Đại Vương người đã có công giúp vua đánh giặc cứu nước.
7. Các hiện vật trong Di tích
Hiện nay Đền Tuần Quán còn lưu giữ 10 đạo sắc phong qua các thời kỳ; 03 bức hoành phi câu đối; Các hiện vật chất liệu đồng: thau đồng, chuông đồng, đài nến, lư hương, bát hương, hạc đồng, bát bửu; Các hiện vật bằng chất liệu gỗ: Hoành phi, câu đối, tượng; Các hiện vật bằng gốm sứ: chum đựng nước thờ, bát hương, lộc bình, lọ hoa. Tổng 31 hiện vật bằng gỗ; 15 hiện vật bằng gốm sứ; 21 hiện vật bằng đồng.
8. Phong tục lễ hội
Hàng năm, để tỏ lòng thành kính, biết ơn và tưởng nhớ đến công lao của Mẫu Liễu Hạnh (vị thần cao nhất ở đền Tuần Quán), từ ngày mồng 1 đến ngày mồng 6 tháng 3 (âm lịch), đền Tuần Quán lại tổ chức lễ hội giỗ Mẫu (Ngày 3 tháng 3 âm lịch Đền tổ chức chính hội). Đây là lễ hội lớn nhất trong năm của đền, thu hút hàng ngàn du khách từ khắp nơi đổ về trảy hội. Sau phần lễ dâng hương, phần hội có các hoạt động văn hóa, thể thao, các trò chơi dân gian sôi nổi, hấp dẫn như: cờ tướng, cờ vua, chọi gà, đánh vật, kéo co, đẩy gậy, làm bánh dày, hát chầu văn, hát chèo, thi thơ… Thông qua những hình thức sinh hoạt văn hóa mang đậm màu sắc dân gian nói trên đã tạo cho ngày hội thêm sống động và thực sự trở thành nơi giao lưu văn hóa có ý nghĩa.
Ngoài ra còn có các ngày Lễ hội sau:
1. Lễ Giao thừa.
2. Lễ thượng Nguyên (Rằm tháng Giêng).
3. Lễ hội giỗ Mẫu (Từ mồng 1 đến 6 tháng ba).
4. Ngày 1/4 Giỗ bà lớn Tuần, lễ vào hè.
5. Ngày 25/5 Giỗ Quan lớn Tuần.
6. Ngày 12/6 Tiệc cô Ba.
7. Ngày 24/6 Tiệc Quan tam phủ.
8. Ngày 1/7 Lễ ra hè đón thu.
9. Ngày 17/7 Giỗ ông Hoàng Bảy.
10. Ngày 20/8 Tế giỗ Cha (Đức thánh Trần).
11. Ngày 9/9 Tiệc Cô Chín.
12. Ngày 10/10 Tiệc ông Hoàng Mười.
13. Ngày 11/11 Tiệc quan Đệ Nhị.
14. Ngày 20/12 Lễ Giáp ấn.
Đền Tuần Quán là điểm lưu giữ và sinh hoạt văn hóa cộng đồng, là nơi biểu hiện của lịch sử văn hóa dân tộc, do đó, đã được Ủy ban nhân dân tỉnh Yên Bái cấp bằng chứng nhận Di tích lịch sử - văn hóa cấp tỉnh.

Di tích chùa Ngọc Am, phường Hồng Hà, thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái1. Tên gọi Di tích- Di tích lịch sử - văn hóa chùa ...
05/11/2024

Di tích chùa Ngọc Am, phường Hồng Hà, thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái
1. Tên gọi Di tích
- Di tích lịch sử - văn hóa chùa Ngọc Am, phường Hồng Hà, thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái.
- Tên gọi khác: Chùa Tùng Lâm; Chùa Am.
2. Loại hình Di tích
Di tích lịch sử - văn hóa cấp tỉnh.
3. Quyết định công bố Di tích
Quyết định số 117/QĐ-UBND ngày 06/2/2007 của Ủy ban nhân dân tỉnh Yên Bái công nhận chùa Ngọc Am, phường Hồng Hà, thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái là Di tích lịch sử - văn hóa cấp tỉnh.
4. Địa điểm và đường đến Di tích
Chùa Ngọc Am hướng mặt về phía Đông Nam, tọa lạc bên bờ tả sông Thao (sông Hồng) thuộc làng Yên Bái, tổng Bách Lẫm, huyện Trấn Yên, Phủ Quy Hóa, tỉnh Hưng Hóa (nay thuộc phường Hồng Hà, thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái). Khách thập phương xuống ga Yên Bái đi bộ hơn 1km là tới chùa.
5. Sơ lược lịch sử Di tích
Chùa Ngọc Am (Tùng Lâm) được xem như trung tâm Phật giáo của tỉnh Yên Bái. Chùa được khởi dựng cuối triều Nguyễn (thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20) do một số nhà buôn và chủ thuyền vận tải đường sông người Việt ở Kẻ Chợ (Hà Nội), Trúc Phê (Hưng Hóa) và Bạch Hạc trở hàng lên bán ở Tuần Quán, Lào Cai hoặc vận chuyển thuê khí giới, quân nhu cho quân đội Pháp thường hay cắm sào đỗ nghỉ ở bến Tuần Quán và suốt dọc sông lên tới địa đầu thành phố Yên Bái. Có người đi tiếp, có người quay xuôi theo hàng lâm sản. Ngoài họ ra còn khá đông thuyền của thương nhân Hoa Kiều cư trú tại Hà Nội hoặc phu thuyền quê quán ở Mông Tự - Mạn Hảo - Hà Khẩu (Trung Quốc) sang Việt Nam làm chân sào. Họ cũng dừng chân tại bến bãi trên. Để cầu bình an, may mắn cho “người yên, vật thịnh” trên những cung đường sông nước, họ góp tiền dựng “Am”. Am - ngôi chùa nhỏ này, ban đầu được bằng những nguyên vật liệu đơn sơ, như: tranh, tre, nứa, lá đã góp phần từng bước hình thành đời sống sinh hoạt văn hóa tinh thần cho nhân dân nơi đây và khách buôn trên sông.
Tháng 4/1900, tỉnh Yên Bái được thành lập, nhờ sự nhiệt tâm của các vị Bố Chánh Bùi Bành, Trần Gia Du, Am được mở rộng khang trang, phát triển thành chùa, có sư trụ trì và lấy tên là Tùng Lâm. Chùa Tùng Lâm còn được gọi là chùa Am để kỷ niệm cùng thời gian đó, chính quyền Pháp chủ trương di chuyển nghĩa trang thị xã cũ trên địa bàn phố Cao Su (phố Yên Thái, phường Hồng Hà ngày nay) về khu nghĩa địa bên bờ hồ Yên Bái (khu vực di tích Nguyễn Thái Học - công viên Yên Hòa thuộc địa phận phường Nguyễn Thái Học ngày nay) do đó toàn bộ đồ thờ, chân nhang tại Am Âm Hồn phố Cao Su được chuyển nhập về chùa Tùng Lâm.
Ngày 31/5/1966, chùa bị không quân Mỹ ném bom tàn phá, các hiện vật quý như: tượng thờ, chuông đồng, hoành phi, câu đối… được đưa về chùa Bách Lẫm - chùa Linh Long (phường Yên Ninh), đền Nhị Châu (xã Giới Phiên). Tháng 12/1973, Công ty Lâm sản Yên Bái được chính quyền lúc bấy giờ cho phép xây dựng xưởng sản xuất trong khuôn viên chùa.
Ngày 22/4/1996, thể theo nguyện vọng của đông đảo bà con nhân dân và Phật tử, Ủy ban nhân dân tỉnh Yên Bái quyết định khôi phục lại chùa Tùng Lâm - Ngọc Am trên nền xưa, đất cũ. Năm 1998, chùa chính hoàn thành, hạng mục Đại Hùng Bảo Điện có kiến trúc hình chữ Đinh gồm 05 gian Đại bái và 03 gian Hậu cung, phía sau là nhà Tổ. Ngay sau khi phục dựng xong, chùa Tùng Lâm đã nhanh chóng trở thành một trung tâm tôn giáo - tín ngưỡng lớn mạnh, linh thiêng tại thị xã Yên Bái (thành phố Yên Bái ngày nay) nói riêng, tỉnh Yên Bái nói chung.
Năm 2004, Đại đức Thích Minh Huy được bổ nhiệm về trụ trì tại chùa. Năm 2005, Đại đức cùng Ban quản lý di tích chùa Tùng Lâm hoàn tất thủ tục lấy lại mặt bằng từ Công ty Lâm sản Yên Bái, đồng thời tiến hành tu bổ, tôn tạo lại chùa. Đánh giá rõ vai trò quan trọng của chùa Tùng Lâm - Ngọc Am trong việc truyền bá và định hướng Phật pháp ở Yên Bái, ngay trong thời gian này, chùa đã được Trung ương giáo hội Phật giáo Việt Nam, Ủy ban nhân dân tỉnh chọn là trụ sở Ban trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam tại tỉnh Yên Bái. Năm 2006, chùa xây dựng thêm hạng mục đền thờ Tam phủ, Đức Thánh Trần và Ông Hoàng Bảy; quy hoạch lại toàn bộ khuôn viên, xây dựng Bảo tháp, xây dựng cổng Tam quan trên trục đường Thanh Niên.
6. Các nhân vật được thờ tự
Chùa Tùng Lâm - Ngọc Am thờ Phật.
7. Phong tục lễ hội
Ngoài dịp mùng một, ngày Rằm, hàng năm tại chùa diễn ra nhiều nghi lễ Phật giáo quan trọng, như: lễ giỗ Tổ sư Thích Đàm Phúc (ngày 06 tháng Giêng); lễ Phật đản (ngày 08/4 âm lịch); lễ Vu lan báo hiếu (Rằm tháng 7); tết Trung thu (Rằm tháng 8); tiệc Tất niên (Rằm tháng Chạp)… Vào những dịp này, nhà chùa thu hút được tham gia đông đảo của nhân dân địa phương, bà con Phật tử và du khách thập phương tới tham quan, chiêm bái, hành lễ.
Trải qua lịch sử hàng trăm năm, vượt qua thiên tai và chiến tranh chùa vẫn giữ vững vai trò hành đạo và truyền đạo của mình. Ngôi chùa trở thành chứng tích hiện hữu gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của thị xã Yên Bái trước đây và thành phố Yên Bái ngày nay. Do đó, Chùa Ngọc Am, phường Hồng Hà được Ủy ban nhân tỉnh Yên Bái công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa cấp tỉnh.

Di tích Chùa và Đền Rối xã Tân Thịnh, thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái1. Tên gọi Di tích- Di tích lịch sử - văn hóa Chùa ...
05/11/2024

Di tích Chùa và Đền Rối xã Tân Thịnh, thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái
1. Tên gọi Di tích
- Di tích lịch sử - văn hóa Chùa và Đền Rối xã Tân Thịnh, thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái.
- Tên gọi khác: Chùa Minh Pháp
2. Loại hình Di tích
Di tích lịch sử - văn hóa cấp tỉnh.
3. Quyết định công bố Di tích
Quyết định số 460/QĐ-UBND ngày 30/11/2005 của Ủy ban nhân dân tỉnh Yên Bái công nhận Chùa và Đền Rối xã Tân Thịnh, thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái là Di tích lịch sử - văn hóa cấp tỉnh.
4. Địa điểm Di tích
Đền và chùa Rối tọa lạc dưới chân một quả đồi hình bát úp rợp bóng cổ thụ tại thôn Trấn Ninh, xã Tân Thịnh, thành phố Yên Bái, nằm cách Trung tâm thành phố chừng 3km, trên trục đường Âu Cơ ra cao tốc Nội Bài - Lào Cai.
5. Sơ lược lịch sử Di tích
Thôn Trấn Ninh II vốn xưa kia có tên gọi thôn Trĩ Rối, thuộc sách Hào Gia, tổng Bách Lẫm, tỉnh Hưng Hóa ở thượng du Bắc Bộ, được thành lập từ năm 1833 dưới thời vua Minh Mạng. Đây là vùng lâm tuyền kỳ thú, núi non quây quần, thung khe trong mát, bốn mùa cây cối tốt tươi. Cư dân nông nghiệp quần tụ ở đất này, hiền hòa đoàn kết, sơn trang yên ấm, mỹ tục thuần hậu.
Theo các bậc cao niên ở Tân Thịnh, đền Rối được khởi dựng vào khoảng nửa đầu thế kỷ XIX, ở Hạ Hòa, Phú Thọ ngày nay có một người tên là Phạm Tà Chiêu vì không chịu cảnh đè nén áp bức của quan lại địa phương đã đưa vợ con và người nhà đi thuyền ngược dòng sông Hồng và cuối cùng dừng chân ở đất Tân Thịnh ngày nay, khai phá lập nên xóm làng. Đây là vùng đất màu mỡ, lâm thổ sản phong phú, có địa hình thuận tiện cho việc giao thương buôn bán với nhiều miền. Ông cũng là người đứng ra xây dựng di tích Đền Rối, Chùa Rối và Đình Làng Yên.
Theo ngọc phả của Đền, thì ngôi đền thờ 5 vị Thành hoàng có tên là Cao Lễ Đại Vương, Cao Kha Đại Vương, Cao Đạt Đại Vương, Cao Tự Đại Vương, Đỗ Đốc Mãnh Đại Vương. Năm vị này là 5 anh em ruột, con của Cao Nghĩa và Phùng Thị Thầm. Vào đời Hùng Duệ Vương, núi Đông Sơn xuất hiện quái vật hại người, hổ sói làm loạn, sát hại dân chúng. Hùng Duệ Vương ủy thác cho các tướng: Cao Lễ Đại Vương, Cao Kha Đại Vương, Cao Đạt Đại Vương, Cao Tự Đại Vương, Đỗ Đốc Mãnh Đại Vương đánh dẹp quái vật. Để ghi nhớ công ơn của họ, người đời sau đã lập đền thờ.
Ngoài ra, Đền Rối còn thờ một công chúa có tên là Ngọc Dung - con thứ 8 của Hùng Triệu Vương và bà Phạm Nguyên Phi. Trải qua các đời vua, Đền Rối được 2 đạo sắc phong. Đạo thứ nhất được sắc phong vào ngày 8 tháng 6 (nhuận) năm 1911 đời vua Duy Tân năm thứ 5; đạo thứ hai sắc phong vào ngày 25 tháng 7 năm 1924, đời vua Khải Định.
Đền có kiến trúc theo kiểu chữ nhất với một gian đại bái và một gian hậu cung - được làm theo kiểu nhà sàn. Gian đại bái, còn giữ được nguyên trạng kiến trúc mỹ thuật cổ triều Nguyễn với những đường nét chạm trổ tinh xảo trên xà nóc, đầu bẩy và các bộ cửa võng theo đề tài: lưỡng long chầu nguyệt, long ẩn, hổ phù, đề tài tứ linh, hoa, điểu…
Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, Đền và chùa Rối trở thành nơi ở và nơi làm việc của cán bộ cách mạng. Thời kỳ này, Đền không có người thờ cúng, trông coi nên các cỗ ngai và đồ thờ tự được xếp vào một nơi không ai chú ý đến. Đến năm 1953 thì 4 cỗ ngai bị mất, đến năm 1979 thì 5 bát hương bằng đá cũng bị thất lạc.
Trong đền, hiện còn giữ được khá nhiều hiện vật và đồ thờ cổ như: ngai thờ, bát nhang, ngựa thờ, hòm sắc. Đặc biệt, các bức đại tự và câu đối với nét chữ tài hoa trên chất liệu gỗ quý. Bức đại tự ở gian đại bái gồm ba chữ: Vân Phú từ - chính là tên tự của đền. Bức thứ hai gồm năm chữ: Diên Trì Vương Mẫu (có nghĩa là nơi ngao du của Vương Mẫu) được hoàn thành vào năm Mậu Dần - niên hiệu Bảo Đại). Cùng với các bức đại tự, trong đền còn treo hai câu đối: "Trạc trạc quyết ninh thi tán hóa/ Dương dương như tại bảo bình yên" và "Thánh hóa viễn chiêm trưng thọ khải/ Mẫu nghi kiều ngưỡng khánh Hào Gia" (Tạm dịch là "Yên vui thanh bình thực hiện nền giáo hóa/Mênh mang như còn bảo vệ sự bình yên” và Sâu xa thay, giáo hóa của bậc thánh nhân làm sáng tỏ niềm vui - Ngẩng trông bậc Mẫu nghi thiên hạ, vinh hiển đất Hào Gia”).

Ngược lên đỉnh đồi không bao xa là Chùa Rối. Ngôi chùa này cũng nằm trong cụm Di tích lịch sử văn hóa đền, chùa Rối. Theo ngọc phả, chùa được đổi tên là Minh pháp tự. Tọa lạc dưới tán đa cổ thụ bốn mùa tỏa bóng xanh mát, Chùa Rối được dựng lên bởi chính sự linh nghiệm và tín ngưỡng tâm linh của nhân dân trong vùng. Năm 2004, chùa đã có sư cô, pháp danh Thích Đàm Hợi trụ trì. Cũng từ đây, Di tích lịch sử văn hóa đền, chùa Rối thực sự trở thành điểm đến tâm linh hội tụ cả ba yếu tố Thiên - Địa - Nhân kỳ diệu, thu hút đông đảo tăng ni phật tử và du khách thập phương tham quan, chiêm bái.

Chùa Rối mang đậm nét văn hóa tâm linh
Trải qua thời gian, hiện nay đền và chùa Rối đã được tu sửa, tôn tạo nhiều lần. Năm 2011, được sự nhất trí của cơ quan chức năng và tấm lòng hằng tâm hằng sản của mọi người, một tòa đền mới được khởi dựng khang trang, vững chãi liền kề ngôi đền cổ. Cổng tam quan, mái đền lợp ngói mũi hài, đầu đao cong vút cách điệu hình tượng con nghê, tạo nên sắc thái mới mà vẫn giữ được dáng vẻ thâm nghiêm Bên trái khu đền, giờ đây còn có hồ thiền quang và tòa Phật đài Bồ Tát tọa lạc giữa mặt gương nước biếc, lung linh tỏa ngát hương sen mùa hạ càng làm cho cảnh quan đền Rối thêm phần linh thiêng, huyền hoặc.
6. Các nhân vật được thờ tự
Đền thờ 5 vị Thành hoàng và Công chúa có tên là Ngọc Dung - con thứ 8 của Hùng Triệu Vương.
7. Các hiện vật trong Di tích
Trong đền, hiện còn giữ được khá nhiều hiện vật và đồ thờ cổ như: ngai thờ, bát nhang, ngựa thờ, hòm sắc, các bức đại tự.
8. Phong tục lễ hội
Những ngày lễ chính trong năm được tổ chức tại Đền như ngày 6 tháng giêng (âm lịch); ngày 10 tháng 2 (âm lịch); ngày 7 tháng 3 (âm lịch); ngày rằm tháng 7; tết tháng chạp, tháng 12 âm lịch. Tuy nhiên, lễ đền chính được tổ chức hàng năm vào ngày 6 tháng giêng như để ghi nhớ công lao của các vị anh hùng, thành hoàng đã có công xây dựng đền. Cũng là dịp để du khách thập phương đến dâng hương cầu lộc, cầu chữa lành bệnh, cầu bình an.
Di tích Chùa và Đền Rối xã Tân Thịnh, thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái đã được Ủy ban nhân dân tỉnh Yên Bái công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa cấp tỉnh.

DI TÍCH BẾN ÂU LÂUI. Tên Di tích: Di tích lịch sử Bến Âu LâuII. Loại hình Di tích: Di tích lịch sử cấp Quốc gia.III. Quy...
05/11/2024

DI TÍCH BẾN ÂU LÂU
I. Tên Di tích: Di tích lịch sử Bến Âu Lâu
II. Loại hình Di tích: Di tích lịch sử cấp Quốc gia.
III. Quyết định công bố Di tích: Quyết định số 3027/QĐ-BVHTTDL, Ngày 07/8/2012 Bến Âu Lâu được Bộ VHTT&DL công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia
IV. Địa điểm và đường đi đến Di tích:
Di tích lịch sử Bến Âu Lâu thuộc phường Nguyễn Phúc, thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái. Di tích nằm ở phía Tây Bắc thành phố Yên Bái, cách trung tâm thành phố Yên Bái chừng 5,5km.
Để đến được với Di tích, chúng ta có thể đi bằng đường bộ. Từ trung tâm thành phố Yên Bái (km5) theo đường Điện Biên qua nút giao Cao Lanh đi vào Đại lộ Nguyễn Thái Học, tới đầu cầu Yên Bái rẽ tay phải, đi tiếp 1,5 km là tới Di tích.
V. Sơ lược lịch sử và thuộc tính của Di tích:
Bến Âu Lâu là nơi ghi dấu một thời đấu tranh chống quân xâm lược của nhân dân các dân tộc tỉnh Yên Bái cũng như của dân tộc Việt Nam. Bến Âu Lâu còn là bến quan trọng để vận chuyển vũ khí, trang bị, lực lượng từ Việt Bắc sang Tây Bắc, góp phần không nhỏ cho thành công của chiến dịch Điện Biên Phủ.
Năm 1953, bến đò mà người dân ven sông Hồng qua lại giao lưu, buôn bán được xây dựng thành bến phà Âu Lâu và trở thành điểm nối thuận tiện giữa Việt Bắc và Tây Bắc của đất nước và trở thành nhân chứng của bao sự kiện lịch sử.
Từ những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, bến Âu Lâu là nơi tập kết, bí mật đưa đón các cán bộ cách mạng, chiến sỹ chuẩn bị cho cuộc tổng khởi nghĩa và sau đó là thành lập Ủy ban cách mạng lâm thời và tiếp quản thị xã Yên Bái. Cũng chính ở nơi đây, thực dân Pháp đã dẫn giải các tù chính trị từ Nghệ An (1943), Thái Nguyên (1945) qua bến sang giam ở Căng Nghĩa Lộ. Đêm 16 rạng ngày 17/8/1945, theo kế hoạch Ủy ban quân sự cách mạng du kích Âu Lâu và du kích Âu Cơ (Vân Hội) cùng bộ đội hữu ngạn sông Hồng qua sông đánh trại Bảo an cướp chính quyền từ tay Nhật.
Năm 1951, trong chiến dịch Lý Thường Kiệt, một hướng của đại đoàn 312 qua bến sang đánh vào khu quân sự Nghĩa Lộ (3/10/1951) và có lúc bến huy động 70 chiếc thuyền vận chuyển lương thực, vũ khí.
Chiến dịch Tây Bắc diễn ra, đêm 10-11/10/1952 bến Âu Lâu là một trong bốn bến mà trung đoàn 36, trung đoàn 174 của đại đoàn 316 và đại đoàn 308 vượt sông Hồng vào Ca Vịnh, Ba Khe, đèo Hồng đánh căn cứ Cửa Nhì.
Cuối tháng 11/1952, theo chỉ thị của Trung ương Đảng và Bộ Tổng tư lệnh yêu cầu gấp rút mở rộng tuyến đường 13 từ Việt Bắc qua Yên Bái. Trong hoàn cảnh khó khăn và địch bắn phá ác liệt nhưng chúng ta vẫn thông đường 13 sớm 5 ngày qua bến Âu Lâu tiếp viện cho chiến trường Tây Bắc.
Bến Âu Lâu có vị trí quan trọng là nối liền hệ thống giao thông Việt Bắc với Tây Bắc, là nơi duy nhất có thể cẩu các loại vũ khí hạng nặng như: pháo mặt đất, pháo cao xạ, xe ô tô chở đạn dược, khí tài quân sự qua sông tiếp viện cho chiến trường Điện Biên Phủ được cả ta và địch đều chú ý. Trong thời gian này, bến Âu Lâu được tăng cường cả về nhân lực và phương tiện để chuyên chở vũ khí, đạn dược, lương thực, thực phẩm, dân công, bộ đội vượt sông Hồng, đồng thời gồng mình chống đỡ những trận bom ác liệt của thực dân Pháp. Ban đêm là lúc chủ yếu diễn ra các hoạt động ở bến Âu Lâu để tránh sự phát hiện của địch, những chuyến phà qua lại một cách nhanh nhất để thông đường cho xe tiếp viện. Để ngăn chặn sự phá hoại của máy bay địch, ban ngày ta phải kéo phà lên thượng lưu vào Ngòi Lâu nhấn chìm phà, ban đêm lại tát nước kéo phà ra.
Từ 11/1953 - 5/1954, thực dân Pháp tập trung bắn phá ác liệt bến Âu Lâu hơn 200 ngày đêm với 2.700 tấn bom đạn nhưng chỉ tắc 8 ngày đêm và chúng ta vẫn vận chuyển được hàng nghìn tấn lương thực và hàng trăm tấn đạn dược, vũ khí cho mặt trận Đện Biên Phủ. Trong hoàn cảnh ấy, sự hy sinh, mất mát là không thể tránh khỏi nhưng cũng chính từ sự hy sinh ấy lại tiếp sức cho cán bộ, công nhân, nhân dân làm việc tại bến thêm ý chí quyết tâm: “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả vì chiến thắng”.
Sau những ngày tháng phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ, từ năm 1955-1965, bến được nâng cấp từ phà gỗ sang phà thép có ca nô dắt. Năm 1965-1968, với tinh thần: “Sống bám cầu đường, chết kiên cường dũng cảm” bến đã có 100 lần đưa 500 lượt xe pháo qua sông, chuyên chở gần 200.000 lượt ô tô, hàng ngàn tấn hàng hóa qua lại. Những năm chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, chúng đã dùng nhiều tốp máy bay đánh phá trong 4 tiếng gây thiệt hại nặng nề cho thị xã Yên Bái và bến phà Âu Lâu trong ngày 31/5/1966. Năm 1967, bến Âu Lâu vinh dự được Thủ tướng Phạm Văn Đồng qua thăm nhân dịp lên chúc tết quân và dân hai tỉnh Yên Bái và Nghĩa Lộ. Ngày 18/12/1972, giặc Mỹ lại tiếp tục tập kích Yên Bái trong đó có bến Âu Lâu nhưng vẫn không cản được những chuyến phà chở người và lương thực, thực phẩm tiếp tế cho chiến trường miền Nam.
Sau khi đất nước thống nhất, bến phà Âu Lâu tiếp tục hoạt động và xây dựng thành đơn vị chủ chốt của ngành giao thông vận tải tỉnh Yên Bái. Ngày 30/12/1992, cầu Yên Bái được khánh thành và đi vào hoạt động là lúc bến Âu Lâu kết thúc sứ mệnh của mình sau gần 60 năm. Do ý nghĩa và giá trị lịch sử của bến Âu Lâu, tỉnh Yên Bái đã xây dựng tượng đài “Bến Âu Lâu lịch sử” ở phường Nguyễn Phúc trên ngã ba đường gần bến. Tượng đài là một biểu tượng cho tinh thần của những người đã chiến đấu, hy sinh để giành lại độc lập, tự do cho tổ quốc.
Với những thành tích được ghi nhận trong những năm kháng chiến hào hùng của dân tộc, bến Âu Lâu rất cần sự quan tâm, gìn giữ để phát huy giá trị của một di tích lịch sử-văn hóa cấp quốc gia, trở thành điểm đến để giáo dục truyền thống đấu tranh giữ nước, tinh thần kiên cường, về một thời gian khổ nhưng rất anh hùng của các thế hệ cha ông chống quân xâm lược, bảo vệ quê hương đất nước. Ngày 07/8/2012 Bến Âu Lâu được Bộ VHTT&DL công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia theo quyết định số 3027/QĐ-BVHTTDL.

Di tích Lễ đài sân vận động, nơi Bác Hồ đứng nói chuyện với nhân dân ngày 25/9/1958  I. Tên Di tích: Di tích lịch sử Lễ ...
05/11/2024

Di tích Lễ đài sân vận động, nơi Bác Hồ đứng nói chuyện với nhân dân ngày 25/9/1958
I. Tên Di tích: Di tích lịch sử Lễ đài sân vận động, nơi Bác Hồ đứng nói chuyện với nhân dân ngày 25/9/1958
II. Loại hình Di tích: Di tích lịch sử cấp Quốc gia.
III. Quyết định công bố Di tích: Quyết định số 1288/ VH-QĐ, ngày 16/11/1988 của Bộ Văn hóa (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch).
IV. Địa điểm và đường đi đến Di tích:
Lễ đài nay thuộc phường Hồng Hà, thành phố Yên Bái. Lễ đài nguyên là khán đài sân vận động thị xã xưa. Sân và Lễ đài nằm trong khu vực đông dân cư, trung tâm của tỉnh lỵ trước đây. Đường giao thông đi lại rất thuận tiện, có thể đi đến Di tích bằng mọi phương tiện. Di tích cách ga Yên Bái chừng 600m về phía Tây và cách Bến xe khách Yên Bái khoảng 1,2 km cũng theo hướng này.
V. Sơ lược lịch sử và thuộc tính của Di tích:
Sân vận động thị xã có từ thời Pháp thuộc. Sau khi hoàn thành việc đánh chiếm và thành lập tỉnh Yên Bái (1900) đến năm 1905 Pháp thành lập trại lính lê dương bảo vệ chính quyền của chúng. Để phục vụ đời sống tinh thần của binh lính, nhất là các hoạt động văn hoá - thể thao. Năm 1927, Pháp cho xây dựng sân vận động này để tổ chức các hoạt động hội hè, đá bóng, nhưng xung quanh sân chỉ được đắp thành các mô đất cao chứ chưa có khán đài, đến năm 1930 mới hoàn thành. Từ đó, Pháp thường xuyên tổ chức các hoạt động vui chơi, giải trí tại đây, mời các đội bóng từ Hà Nội, Phú Thọ, Tuyên Quang đến thi đấu, đồng thời cũng tổ chức nhiều ngày "hội Tây" tại khán đài sân vận động thị xã này.
Năm 1954, hòa bình lập lại, tỉnh Yên Bái chủ trương khôi phục lại sân bóng thành sân vận động thị xã. Tháng 1/1957, tỉnh cho xây dựng khán đài (lễ đài hiện nay) và tường bao quanh sân theo hình bầu dục. Sự kiện lịch sử quan trọng nhất là ngày 25/9/1958, phái đoàn của Chính phủ do Chủ tịch Hồ Chí Minh dẫn đầu lên thăm tỉnh Yên Bái. Sau khi Người thăm và làm việc tại Lào Cai, ngày 24/9/1958 phái đoàn về Yên Bái. Trong thời gian làm việc tại tỉnh, theo đề nghị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Ủy ban hành chính tỉnh đã chọn sân vận động thị xã làm nơi mít tinh để Bác Hồ nói chuyện với nhân dân các dân tộc trong tỉnh.
Khi đó tỉnh Yên Bái là một trong những tỉnh khó khăn nhất miền Bắc, vừa mới dành được độc lập, chiến tranh tàn phá nặng nề, phần lớn địa hình là đồi núi, dân cư thưa thớt, trình độ dân trí thấp, nạn du canh du cư, mê tín dị đoan còn nhiều, cuộc sống còn vô cùng thiếu thốn. Trong lúc khó khăn nhất, Bác đã đến thăm Yên Bái. Sáng sớm ngày 25/9/1958, gần 5.000 cán bộ và nhân dân các dân tộc thị xã Yên Bái cùng đồng bào các vùng lân cận đã nô nức kéo đến dự mít tinh để được nhìn thấy Người, nghe tiếng Người. Từ tỉnh đội đi ra, Bác đến sân vận động và bước lên Lễ đài trong tiếng hò reo như sấm dậy của đồng bào.
Sau khi mọi người im lặng, Bác bắt đầu nói chuyện, Người thân mật thăm hỏi cán bộ và nhân dân, chỉ ra những việc làm thiết thực. Người đề cập đến nhiều vấn đề từ đoàn kết dân tộc, tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm. Nói chuyện xong Bác bắt nhịp cùng toàn thể đồng bào Yên Bái hát bài "kết đoàn". Từ lễ đài, Người rời về nơi làm việc trong tiếng vỗ tay và những bài ca hùng tráng của đồng bào tỉnh nhà.
Tiếp đến, Người cùng phái đoàn của Chính phủ đi thăm một số cở sở kinh tế và các đơn vị bộ đội trong tỉnh.
Dù chỉ gần 1 giờ được gặp và nghe Bác nói song đã để lại những tình cảm sâu lắng, đầm ấm trong lòng mỗi người dân Yên Bái. Từ đó về sau, Lễ đài sân vận động trở thành nơi lưu giữ những gì tốt đẹp nhất về Người trong ký ức mỗi người dân Yên Bái. Nơi đây luôn được chính quyền và nhân dân các dân tộc Yên Bái trân trọng, gìn giữ.
Di tích Lễ đài sân vận động Yên Bái, chính là sân vận động thành phố Yên Bái hiện nay. Lễ đài có chiều dài là 10m, rộng 5,5m, cao 8,2m và được xây 2 tầng. Tầng 1: có diện tích là 42m2, gồm 3 cửa ra vào (cửa lớn ở giữa, 2 cửa nhỏ hai bên), của lớn rộng 2m, cao 2,1 m; cửa nhỏ rộng 1m, cao 2,1 m. Tầng 2: cũng có diện tích mặt bằng là 42,1m2, chia làm 2 phần. Phần ngoài không có mái, diện tích là 15m2, phần trong có mái, diện tích là 27m2. Giữa 2 phần có hai trụ cột vuông đỡ và cũng có 3 cửa ra vào như tầng 1. Hai tầng lên xuống bằng 1 cầu thang, nằm sát tường phía sau, tầng dưới về phía bên phải. Phần ngoài của tầng trên chính là nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng nói chuyện trong cuộc mít tinh ngày 25/9/1958. Mặt trước Lễ đài có trang trí 5 vòng tròn - biểu tượng của hoạt động thể dục - thể thao.
Ngoài phần chính là khán đài, Di tích còn phần phụ là bậc thềm phía trước cửa và 2 "cánh gà" ở 2 bên khán đài. Bậc thềm trước cửa gồm 6 bậc, mỗi bậc cao 15cm, cánh gà 2 bên có chiều dài 20m, rộng 6,7m được xây thành bậc cho đại biểu ngồi dự mít tinh và khán giả xem bóng đá.
Ngày 31/5/1966, một trận ném bom của máy bay Mỹ đã làm sập một góc của Di tích, năm 1977 Di tích được sửa lại thay cửa hình vòm bằng cửa hình vuông, toàn bộ kiến trúc vẫn được giữ nguyên.
Năm 2016, khu Di tích lễ đài đã được cải tạo nâng cấp bao gồm 7 hạng mục công trình, chỉnh trang nâng cấp 2 tuyến đường tiếp cận với sân vận động, cải tạo mở rộng khu tưởng niệm Bác Hồ và hai bên khán đài với quy mô 4.300 chỗ ngồi, xây dựng hệ thống phụ trợ cấp thoát nước, phòng cháy, chữa cháy, chiếu sáng, thu sét. Di tích lễ đài và toàn bộ kiến trúc của khu vực tưởng niệm Bác được thiết kế theo lối kiến trúc truyền thống, mô phỏng theo kiến trúc tưởng niệm Bác Hồ tại Kim Liên - Nghệ An quê Bác, với chất liệu chủ yếu bằng gỗ và giả gỗ, sử dụng hoàn toàn bằng các hoa văn vốn cổ của dân tộc như hoa văn hình sóng nước, hình chữ thọ và hoa văn hoa sen, hoa cúc cách điệu mềm mại và tinh tế, càng làm tăng thêm dáng vẻ truyền thống, khang trang nhưng đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam.
Vẫn còn vang vọng đâu đây lời Bác căn dặn nhân dân Yên Bái: "Phải đoàn kết chặt chẽ các dân tộc, Bác biết tỉnh nhà có 10 dân tộc anh em cùng chung sống; nhờ đoàn kết mà tạo ra sức mạnh trong chiến đấu cũng như sản xuất; Phải làm thế nào để đời sống nhân dân sướng hơn, được ăn no, mặc ấm, được học hành; Đồng bào phải biết thực hành tiết kiệm và thực hiện đời sống văn hóa mới”; Bác chỉ rõ những mặt chưa tốt, chưa tiết kiệm của đồng bào, nhắc nhở đồng bào “Phải quyết tâm từ bỏ những hủ tục lạc hậu để cùng nhau xây dựng đời sống văn hóa mới thì cuộc sống mới khá hơn, tiến bộ hơn”.
Với ý nghĩa văn hóa lịch sử đó, nơi đây đang là một điểm đến, một địa chỉ của nhân dân và du khách đến thăm quan và thắp hương tưởng niệm Bác, mãi là nơi lưu giữ những kỷ niệm thiêng liêng về vị Lãnh tụ vĩ đại - Chủ tịch Hồ Chí Minh trong lòng nhân dân các dân tộc tỉnh Yên Bái, là địa chỉ giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ hôm nay và mai sau.

Di tích Khu mộ Nguyễn Thái Học và các chiến sĩ hy sinh trong cuộc khởi nghĩa Yên I. Tên Di tích: Di tích lịch sử Nguyễn ...
04/11/2024

Di tích Khu mộ Nguyễn Thái Học và các chiến sĩ hy sinh trong cuộc khởi nghĩa Yên
I. Tên Di tích: Di tích lịch sử Nguyễn Thái Học, thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái.
II. Loại hình Di tích: Di tích lịch sử cấp Quốc gia.
III. Quyết định công bố Di tích: Quyết định số 177/ VH-QĐ, ngày 5/3/1990 của Bộ Văn hóa (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch).
IV. Địa điểm và đường đi đến Di tích:
Di tích khu mộ Nguyễn Thái Học và các chiến sĩ trong cuộc khởi nghĩa Yên Bái năm 1930, nằm trong khuôn viên công viên Yên Hòa (rộng 30 ha), bên cạnh đại lộ mang tên nhà yêu nước Nguyễn Thái Học, thuộc phường Nguyễn Thái Học, thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái. Ở vị trí này ta có thể đi đến Di tích bằng nhiều loại hình giao thông: Đường bộ, đường sắt, đường thủy.
V. Sơ lược lịch sử của Di tích:
Yên Bái là một tỉnh thuộc vùng trung du và miền núi phía Bắc, nằm trải dọc đôi bờ sông Hồng, được thành lập ngày 11 tháng 4 năm 1900, tỉnh Yên Bái được biết đến qua cuộc Khởi nghĩa Yên Bái của Việt Nam Quốc Dân Đảng vào thượng tuần tháng 2 năm 1930.
Khởi nghĩa Yên Bái có thể xem là một trang sử vẻ vang của dân tộc, biểu thị cho tinh thần tự do, bất khuất, không cam chịu ách nô lệ Thực dân của người Việt những thập niên đầu thế kỷ XX. Trong hệ thống các di tích lịch sử - văn hóa còn lưu lại trên đất Yên Bái, di tích khu mộ Nguyễn Thái Học và các chiến sỹ hy sinh trong cuộc khởi nghĩa Yên Bái được xem là di tích lịch sử tiêu biểu, được nhiều người biết đến và là niềm tự hào của lịch sử, du lịch và địa lý nhân văn nơi đây.
Trong hệ giá trị truyền thống dân tộc Việt Nam, yêu nước là giá trị nổi bật và cơ bản nhất, là “sợi chỉ đỏ” xuyên suốt lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc. Hòa mình vào dòng chảy đó, thời điểm đầu thế kỷ XX đã ghi dấu rất nhiều phong trào đấu tranh chống thực dân Pháp xâm lược, trong đó có Khởi nghĩa Yên Bái do tổ chức Việt Nam quốc dân Đảng lãnh đạo. Nhấn mạnh về tầm vóc và giá trị lịch sử cuộc khởi nghĩa Yên Bái, trong tác phẩm “Lịch sử nước ta” (năm 1941), Chủ tịch Hồ Chí Minh viết:
“Kìa Yên Bái, nọ Nghệ An
Hai lần khởi nghĩa tiếng vang hoàn cầu”.
Khởi nghĩa Yên Bái không chỉ là hành động yêu nước của những chiến sỹ Việt Nam Quốc dân đảng mà còn trở thành biểu tượng của tinh thần quật khởi và truyền thống đấu tranh anh dũng chống ngoại xâm của toàn thể dân tộc Việt Nam. Hành động yêu nước và khí phách chiến đấu thà chấp nhận hy sinh chứ không chịu khuất phục trước quân thù của những lãnh tụ như Nguyễn Thái Học, Phó Đức Chính, Nguyễn Khắc Nhu... đã góp phần to lớn vào việc thức tỉnh, giác ngộ tinh thần yêu nước và ý thức tự cường dân tộc cho các tầng lớp nhân dân.
Chúng ta có mặt tại Khu Di tích Lịch sử này để cùng thắp nén hương tri ân và ôn lại những giá trị truyền thống yêu nước, đóng góp to lớn của những Chiến sỹ đã chiến đấu với tinh thần quả cảm, quyết hy sinh vì độc lập, tự do cho dân tộc để chúng ta có được nền hòa bình như ngày hôm nay.
1. Khu di tích lịch sử
Nhằm lưu giữ những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc, ngày 5/3/1990, Bộ Văn hóa đã ban hành Quyết định số 177/VH-QĐ công nhận Di tích lịch sử khu mộ Nguyễn Thái Học và các chiến sĩ hy sinh trong cuộc khởi nghĩa Yên Bái là Di tích lịch sử cấp quốc gia. Khu Di tích lịch sử này nằm trong quần thể công viên Yên Hòa với diện tích gần 30ha nằm sát đường Nguyễn Thái Học phường Nguyễn Thái Học, thành phố Yên Bái. Khu Di tích được tỉnh Yên Bái khởi công xây dựng vào năm 2000 là nơi an nghỉ, ghi dấu tinh thần anh dũng quyết hy sinh vì độc tập, tự do của nhà yêu nước Nguyễn Thái Học và các chiến sỹ những năm đầu thế kỷ XX. Trong những năm qua, được sự nhất trí của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Ủy ban nhân dân tỉnh Yên Bái đã chỉ đạo các ngành chuyên môn và UBND thành phố Yên Bái tiến hành 05 đợt tu bổ, tôn tạo, mở rộng di tích đảm bảo theo đúng Luật Di sản và các quy định của pháp luật.
Hiện nay, Di tích lịch sử khu mộ Nguyễn Thái Học và các chiến sỹ hy sinh trong cuộc khởi nghĩa Yên Bái gồm các hạng mục: Khu Lăng mộ, khu tượng đài, nhà tưởng niệm, bia tưởng niệm, nhà đón khách và khuôn viên cây cảnh. Trong đó, phần chính là khu mộ có diện tích 300m2, có kiến trúc vừa hiện đại vừa truyền thống bao quanh là 17 cột trụ to, tròn, cao tượng trưng cho 17 chiến sĩ đã bị thực dân Pháp xử chém trong cuộc khởi nghĩa Yên Bái năm 1930, 17 cột trụ được này được nối với nhau bằng một vòng tròn khuyết với câu nói bất hủ của Nguyễn Thái học: “Không thành công cũng thành nhân”.
Bước vào khu mộ, bên phải là khối hình vát mô phỏng lưỡi máy chém của Thực dân Pháp được lát đá hoa cương đen, mặt trên ghi câu thơ của Nguyễn Thái Học đọc trước khi lên máy chém “Chết vì tổ quốc chết vinh quang”. Đối diện là Bảng vàng lưu danh 17 chiến sỹ an nghỉ nơi đây sau 02 đợt hành hình của Thực dân Pháp: Đợt 1 vào ngày 08/5/1930 có 04 chiến sỹ; Đợt 2 vào ngày 17/6/1930 có 13 chiến sỹ.
Tại đây, có 2 ngôi mộ tập thể là nơi yên nghỉ của các chiến sỹ:
Ngôi mộ thứ nhất: Gồm 4 chiến sỹ bị hành quyết ngày 8/5/1930 gồm: Ngô Hải Hoằng, Đặng Văn Tiệp, Đặng Văn Lương, Nguyễn Thanh Thuyết, đây là các ông cai phục vụ trong quân đội Pháp, nổi dậy trực tiếp chỉ huy đánh chiếm đồn Pháp.
Ngôi mộ thứ 2: Gồm 13 chiến sỹ bị hành quyết ngày 17/6/1930, là các yếu nhân của Việt Nam Quốc dân Đảng, trong đó có Nguyễn Thái Học và Phó Đức Chính…
Phần tượng đài có diện tích là 56m2, gồm 5 nhân vật lịch sử với chiều cao là 6m (với chất liệu bằng bê tông phủ kẽm) đứng trên một đám mây cách điệu, bao quanh chân tượng là nhóm phù điêu cao 3m. Các nhân vật trong nhóm tượng đài là: Nguyễn Thái Học, Nguyễn Khắc Nhu (hay cụ xứ Nhu), Phó Đức Chính, Ngô Hải Hoằng (cai Hoằng), Nguyễn Thị Giang
Nhân vật thứ nhất là Nguyễn Thái Học, được lấy nguyên mẫu từ bức ảnh khi ông là sinh viên thương mại, sáng láng trí tuệ, trẻ trung và đầy ý chí. Ông là linh hồn của tổ chức Việt Nam Quốc dân Đảng, trước khi lên đoạn đầu đài, thực dân Pháp bắt ông chứng kiến lần lượt 12 đồng chí của ông bị hành quyết. Dưới máy chém ông hô vang “Việt Nam vạn tuế”.
Nhân vật thứ 2 là Nguyễn Khắc Nhu sinh năm 1882, mất năm 1930 chỉ huy trực tiếp đánh đồn Hưng Hóa nhưng không thành. Quân Pháp đuổi bắt, ông nằm trên trái mìn tự tạo, giật nổ nhưng ông chỉ bị thương. Với ý chí không chịu sa vào tay giặc, về nhà lao Hưng Hóa, ông đã tự vẫn.
Nhân vật thứ 3 là Phó Đức Chính, sinh năm 1907, mất năm 1930, quê quán làng Đa Ngưu (nay thuộc xã Tân Tiến) huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên, người trực tiếp chỉ huy đánh Đồn Thông (Sơn Tây). Trước khi lên máy chém, người Pháp hỏi: “Anh chết trẻ, có ân hận không?”, Phó Đức Chính trả lời: “Sống làm người mong làm một việc lớn, việc không thành có gì ân hận!”.
Nhân vật thứ 4 là Nguyễn Thị Giang, thường gọi là cô Giang, sinh năm 1909, mất năm 1930, quê quán tại thị xã Phủ Lạng Thương, tỉnh Bắc Giang, người làm công tác binh vận, là vợ Nguyễn Thái Học. Bà không bị thực dân Pháp bắt và cải trang đi đến pháp trường chứng kiến sự hy sinh của các chiến sỹ, sau đó bà lẳng lặng quay về dùng khẩu súng ngắn của chồng tặng để tuẫn tiết theo chồng. Cô Giang để lại một bài thơ tuyệt mệnh rất cảm động. Chính vì thế mà cụ Phan Bội Châu đã viết bài văn tế cô Giang lên hàng nữ liệt của Việt Nam.
Nhân vật thứ 5 là Ngô Hải Hoằng đại diện cho lực lượng chủ yếu nổi dậy chống Pháp trong cuộc khởi nghĩa Yên Bái.
Lăng mộ và nhóm tượng đài đều hướng ra phía hồ Cô Giang, không bao giờ cạn nước, như lòng yêu nước mãi mãi dâng đầy.
Phía trên cùng là Khu Tưởng niệm sau khi được đầu tư tu bổ, tôn tạo mở rộng quần thể di tích gồm một số hạng mục quan trọng như: Nhà tưởng niệm, nhà đón khách, hạng mục sân vườn, khu vực mộ, tượng đài, và khuôn viên cây xanh… với cấu trúc đường nét hài hòa kết tinh được những giá trị truyền thống và hiện đại, khắc họa được tinh thần yêu nước quả cảm của các chiến sĩ gắn liền với tổ chức Việt Nam Quốc dân Đảng và Khởi nghĩa Yên Bái.
Đây là quần thể di tích liên hoàn với kiến trúc độc đáo, hài hòa trong không gian đô thị thành phố Yên Bái kết nối giữa quá khứ với hiện tại là nơi nhắc nhở mỗi người dân đất Việt về truyền thống yêu nước nồng nàn, ý chí đấu tranh quật cường vì độc lập tự do của cha ông.
2. khái quát về Nguyễn Thái Học và hoạt động của tổ chức Việt Nam quốc dân Đảng
Nguyễn Thái Học sinh năm 1901 tại làng Thổ Tang, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc. Xuất thân từ một gia đình trung nông, Nguyễn Thái Học từ nhỏ đã được đi học chữ Nho do một cụ tú trong làng dạy. Năm 1913, ông theo học trường sơ học Vĩnh Tường, rồi trường tiểu học Việt Trì. Trong thời gian học tại tỉnh nhà, Nguyễn Thái Học đã là một thanh niên yêu nước, có tư tưởng chống Pháp.
Sau khi tốt nghiệp trường Tiểu học, năm 1921, Nguyễn Thái Học thi vào trường Sư phạm Hà Nội. Trong mấy năm học tại trường này, Nguyễn Thái Học đã nhiều lần công khai phản đối các giáo viên Pháp. Chính Giám đốc An ninh Đông Dương, Louis Marty đã nhận xét: “Nguyễn Thái Học là một học sinh bướng bỉnh, hay cãi lại thầy giáo”. Cũng vì ghét thực dân Pháp nên Nguyễn Thái Học cũng ghét lịch sử Pháp, nhưng lại say mê học lịch sử Việt Nam và lịch sử cách mạng Pháp. Năm 1925, do một số bạn bè khuyên nhủ, Nguyễn Thái Học tham gia thi kỳ thi tuyển Thừa phái. Nhưng sau khi thi đỗ, ông không ra làm việc cho Pháp mà quyết định vào học trường Cao đẳng thương mại.
Trong các năm 1925, 1926, 1927, Nguyễn Thái Học đã gửi thư cho Toàn quyền Đông Dương Varen trình bày chương trình cải cách xã hội toàn diện của mình. Cũng trong thời gian đó, Nguyễn Thái Học đã viết một số bài gửi đăng báo với hy vọng bày tỏ các ý kiến cải cách trước quốc dân đồng bào. Nhưng tất cả những bức thư gửi cho các nhà chức trách của chính quyền thực dân đều không có kết quả. Từ đó, ông đi đến một kết luận là: chỉ có dùng võ lực đánh đuổi người Pháp ra khỏi đất nước thì mới mong giúp ích cho đồng bào.
Việt Nam Quốc dân đảng ra đời vào ngày 25- 12- 1927, là sự hợp nhất hành động giữa các nhóm yêu nước của Nguyễn Thái Học ở Hà Nội, Nguyễn Thế Nghiệp ở Bắc Ninh và Hoàng Văn Đào, Hoàng Văn Tùng ở Thanh Hóa... Nguyễn Thái Học được bầu làm Chủ tịch Đảng. Quốc dân Đảng nêu rõ mục đích: “Liên lạc tất cả anh em đồng chí không phân biệt giai cấp, tôn giáo, dùng vũ lực để lấy lại quyền độc lập cho nước Việt Nam”.
Sau khi được thành lập, Việt Nam Quốc dân đảng bắt đầu phát triển trong giới thân hào, thân sĩ, nhà nho, chức dịch các làng xã, binh lính Việt Nam trong quân đội Pháp, trí thức tiểu tư sản, tư sản dân tộc. Đặc biệt là sự hợp nhất giữa Việt Nam Quốc dân đảng và phái Việt Nam Dân quốc của Nguyễn Khắc Nhu ở Bắc Ninh đã làm cho công tác phát triển đảng thu được nhiều kết quả. Song song với công tác phát triển đảng, Nguyễn Thái Học cũng nhờ người đi liên hệ với các đảng cách mạng khác như Tân Việt Cách mạng đảng, Việt Nam Cách mạng Thanh niên nhằm đi tới thống nhất các lực lượng cách mạng trong nước.
Đầu năm 1929, tổ chức Việt Nam Quốc dân đảng đang trên đà phát triển thuận lợi thì xảy ra vụ ám sát Bazin (9- 2- 1929). Nhân cớ đó, thực dân Pháp đẩy mạnh đàn áp, phá vỡ tổ chức của Đảng. Nhiều đảng viên của Việt Nam Quốc dân đảng bị bắt. Trước tình thế này, Việt Nam quốc dân Đảng đứng đầu là Nguyễn Thái Học đã quyết định tổ chức cuộc khởi nghĩa ở Yên Bái và các tỉnh phía Bắc với tinh thần: “Không thành công cũng thành nhân” và nếu có “chết đi thì cũng để cho thế giới biết rằng tinh thần dân tộc đang còn sống”
3. khái quát về khởi nghĩa Yên Bái
Yên Bái nằm sát đường biên giới Việt - Trung có một vị trí chiến lược quan trọng. Vì vậy, đây là một trong những địa điểm được lựa chọn để tiến hành khởi nghĩa ngay từ đầu của Việt Nam Quốc dân đảng. Sau một thời gian gấp rút chuẩn bị lực lượng, cho đến sát ngày 9-2-1930, mọi công việc chuẩn bị cho khởi nghĩa đã tương đối hoàn thành. Tuy nhiên do nắm được kế hoạch Tổng công kích của Việt Nam Quốc dân đảng cũng như toàn bộ thời gian, kế hoạch của khởi nghĩa Yên Bái nên thực dân Pháp đã chú ý tăng cường đề phòng nghiêm ngặt.
Vào 1 giờ sáng 10-2-1930, dưới sự chỉ huy của Nguyễn Văn Khôi, Ngô Hải Hoằng, quân khởi nghĩa đã nổ súng tấn công đồn binh Yên Bái. Do chưa được chuẩn bị chu đáo về mọi mặt lại vấp phải sự đề phòng từ trước của quân Pháp nên cuộc khởi nghĩa đã không diễn ra đúng như dự tính. Sau vài giờ chiến đấu, nghĩa quân đã nhanh chóng chiếm được Đồn Dưới và kho vũ khí, đồng thời giết và làm bị thương được một số sỹ quan và hạ sỹ quan Pháp, nhưng không chiếm được Đồn Cao. Sau đó, nghĩa quân chia nhau đi chiếm nhà ga và một vài cơ quan trong tỉnh lỵ Yên Bái như Sở Bưu điện, trại lính lê dương..., đồng thời hô hào và phát vũ khí kêu gọi nhân dân hưởng ứng khởi nghĩa.
Ngay khi cuộc khởi nghĩa bùng nổ, Công sứ Yên Bái đã chạy xuống Sở Lục lộ rồi ra ga xe lửa đánh điện gấp báo về Hà Nội. Đúng 8 giờ sáng ngày 10-2-1930, được sự yểm trợ của máy bay từ Hà Nội lên, lực lượng còn lại của quân Pháp đã cùng với lính lê dương tổ chức phản công quyết liệt. Toàn bộ nghĩa quân còn lại của Việt Nam quốc dân Đảng tại khu trại lính đều bị bắt, thị xã Yên Bái lại thuộc quyền kiểm soát của địch. Cuộc khởi nghĩa của Việt Nam Quốc dân đảng tại đây đã bị thất bại hoàn toàn.
Sau khởi nghĩa Yên Bái, các cuộc khởi nghĩa ở một số địa phương đã nổ ra như: Hải Dương, Phụ Dực (Thái Bình), Vĩnh Bảo (Hải Phòng) Thực dân Pháp truy lùng Nguyễn Thái Học một cách gắt gao và bắt được ông vào ngày 20/2/1930, tại ấp Cổ Vịt (nay thuộc xã Cộng Hòa, Chí Linh, Hải Dương) và đem về giam tại ngục thất Hỏa Lò, Hà Nội.
Ngày 23- 3- 1930, trước Hội đồng đề hình họp tại Yên Bái, Nguyễn Thái Học đã nhận hết trách nhiệm về mình và tìm cách biện minh cho hành động của tổ chức Việt Nam Quốc dân Đảng. Nhưng Hội đồng đề hình không cho ông nói và quyết định tuyên án tử hình Nguyễn Thái Học. Ngày 17- 6- 1930, thực dân Pháp đã hành hình Nguyễn Thái Học cùng 12 yếu nhân khác của Việt Nam Quốc dân đảng tại Yên Bái.
Để ghi nhớ công lao của Nguyễn Thái Học, ngày 24/2/1976, Nhà nước đã truy tặng chiến sĩ yêu nước Nguyễn Thái Học danh hiệu Liệt sĩ. Tại Di tích khu mộ Nguyễn Thái Học và các chiến sỹ hy sinh trong cuộc khởi nghĩa Yên Bái với những công trình như: Khu Lăng mộ, tượng đài, nhà tưởng niệm, bia tưởng niệm... là minh chứng lịch sử về tinh thần yêu nước đồng thời trở thành một địa chỉ đỏ để giáo dục các thế hệ trẻ tìm hiểu truyền thống, lịch sử, qua đó bồi đắp tinh thần yêu nước và lòng tự hào dân tộc.
Đại văn hào nổi tiếng người Liên Xô - Aleksey Nikolayevich Tolstoy từng viết: Năm tháng rồi sẽ qua đi, các cuộc chiến tranh sẽ im ắng dần và những cuộc cách mạng cũng sẽ thôi gào thét! Nhưng khởi nghĩa Yên Bái với những giá trị lớn lao về nhân văn, lịch sử vẫn sống mãi trong tâm thức hàng triệu người dân. Đến Yên Bái, thăm Di tích, im lặng nghe tiếng vọng của thời gian, cúi mình ngưỡng mộ trước tấm gương hi sinh anh dũng của lãnh tụ và các yếu nhân của Khởi nghĩa Yên Bái, chúng ta sẽ càng hiểu hơn những giá trị trường tồn, bất diệt của dân tộc.

Address

Phố Yên Lạc
Yên Bái

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when TP. Yên Bái: ĐIỂM HẸN LÝ TƯỞNG - HẤP DẪN posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share