TAY NINH travel guide

TAY NINH travel guide Contact information, map and directions, contact form, opening hours, services, ratings, photos, videos and announcements from TAY NINH travel guide, Travel and transport, 120 NGUYỄN VĂN LINH/HÒA THÀNH, Tây Ninh.

12/10/2019
Tục thờ Bà Đen ở Nam Bộ (Qua nghiên cứu khu du lịch Núi Bà Đen, Tây Ninh)Huỳnh Thiệu PhongNếu như ở vùng đồng bằng sông ...
03/08/2019

Tục thờ Bà Đen ở Nam Bộ
(Qua nghiên cứu khu du lịch Núi Bà Đen, Tây Ninh)
Huỳnh Thiệu Phong
Nếu như ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, dạng thức thờ Bà Chúa Xứ ảnh hưởng vô cùng mạnh mẽ trong tâm thức của cộng đồng người trong khu vực này thì ở vùng Đông Nam Bộ, Linh Sơn Thánh Mẫu, hay còn được gọi bằng cái tên dân dã là Bà Đen (Bà Đênh) cũng có sức ảnh hưởng không kém trong sinh hoạt tín ngưỡng của cộng đồng người dân khu vực này.
Bài viết này tập trung vào bốn khía cạnh: (1) Truyền thuyết về Bà Đen – (2) Hình tượng Bà – (3) Hệ thống điện thờ – (4) Lễ Vía Bà.
Trong Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức, viết vào đầu thế kỷ XIX, mô tả ngọn núi này “Giữa đất đồng bằng nổi lên ngọn núi Bà Đinh (Bà Đen), ngày đẹp trời, từ Sài Gòn có thể thấy ngọn núi này mờ mờ hiện ra trong mây mù, tương truyền đây là ngọn núi thiêng, có chuông vàng ẩn hiện trong hồ, đêm trăng, có thuyền rồng bơi lượn múa hát du dương…”. Núi Bà Đen được coi là ngọn núi thiêng, ngọn núi chính trấn thành Gia Định (tức Sài Gòn), giống như núi Tản Viên ở Thăng Long hay núi Ngự Bình ở cố đô Huế. Núi cao 986 mét, tọa lạc tại huyện Dương Minh Châu và là biểu tượng của mảnh đất và con người Tây Ninh.
Về truyền thuyết thứ nhất thì kể rằng nàng Đênh[1] – một người con gái là con của một ông quan tri huyện ở vùng Trảng Bàng, nàng có nước da ngâm đen. Từ nhỏ nàng đã có lòng mộ đạo, thường hay lên chùa để lễ phật. Một lần nọ, nàng Đênh khi đang trên đường lên núi thì bị cọp vồ. Linh hồn của nàng báo mộng cho nhà sư tu ở chùa Linh Sơn. Sau đó, nhà sư đã đi tìm xác của nàng. Sau khi tìm được thì làm lễ mai táng, lập điện thờ phụng ở Điện Bà.
Truyền thuyết thứ hai lại kể về một cô gái mang tên Lý Thị Thiên Hương, quê ở Trảng Bàng, hay văn giỏi võ thường hay lên núi Quả Một (tên gọi cũ của núi Bà Đen) cúng Phật. Trên núi có một ngôi chùa thờ tượng Phật rất linh thiêng. Vì đường lên núi rậm rạp, thường có nhiều loại hổ báo ẩn náu nên dân chúng thường đi theo từng nhóm để hỗ trợ nhau khi bị thú dữ tấn công. Lý Thị Thiên Hương đã gặp một người con trai trong làng tên Lê Sĩ Triệt và hai người đem lòng thương yêu nhau tha thiết. Một lần nọ, cô bị một tên quan tham háo sắc trong làng ức hiếp và muốn cô gả cho hắn. Sau khi biết tin, vì không muốn người mình thương yêu phải lấy tên tham quan nên Lê Sĩ Triệt đã ra tay cứu người yêu. Sau khi cứu được nàng thì hai người nên duyên vợ chồng và chung sống với nhau rất hạnh phúc. Khi đó, Nguyễn Ánh (tức vua Gia Long sau này) đang cho người đi chiêu mộ quân sĩ để đánh lại nhà Tây Sơn, Lê Sĩ Triệt đã đầu quân cho Nguyễn Ánh. Lý Thị Thiên Hương ở nhà lên núi cầu Phật cầu cho chồng sớm quay về thì bị bọn cướp vây bắt. Cô nhanh chóng chạy vào rừng hòng thoát thân và mất tích từ đó. Đến thời vua Minh Mạng, trên chùa có một vị sư già làm trụ trì. Một hôm, khi đang tụng kinh niệm Phật thì nhà sư phát hiện bóng một cô gái xinh đẹp hiện ra, nói rằng: “Ta đây họ Lý, khi 18 tuổi bị bọn cướp vây bắt, nên chẳng may ngã xuống vực chết, nay đắc quả, xin Hòa thượng xuống triền núi phía đông nam, tìm thi hài của ta và chôn cất giùm”. Nhà sư y lời đi tìm xác cô đem về chôn cất. Dân chúng trong vùng ca ngợi tấm lòng trinh trắng, trung hậu của Lý Thị Thiên Hương – cô gái có màu da đen sậm, do vậy sau đó người dân đã cho xây dựng miếu thờ tự và gọi bà bằng tục danh là Bà Đen, đồng thời cũng cho sửa tên ngọn núi Một thành núi Bà Đen.
Như tất cả chúng ta đều biết, vùng đất Nam Bộ này trước khi mà cộng đồng lưu dân Việt từ miền Bắc di cư vào đây, từng là lãnh thổ của vương quốc cổ Phù Nam, và sau này là của Chân Lạp.
Tục danh “Bà Đen” cũng đã cho ta thấy được nét cơ bản nhất của hình tượng Bà. Sở dĩ gọi là Bà Đen vì Bà có khuôn mặt đen. Hình tượng Bà Đen thường đi liền với hình tượng Bà Trắng; hai vị nữ thần này trong văn hóa của Khmer được biết đến dưới tên gọi lần lượt là Neang Khmau và Mé Sar. Khi di cư vào trong vùng Nam Bộ này, với tâm thức thờ Mẫu có sẵn từ miền ngoài, tương tự như Bà Chúa Xứ, người ta dễ dàng tiếp nhận nữ thần Neang Khmau và nhanh chóng Việt hóa vị nữ thần này. Đến đây thì một vấn đề phát sinh, đó là tại sao trong văn hóa Khmer tồn tại cả hai vị nữ thần là Neang Khmau và Mé Sar; trong khi tiếp nhận thì những lưu dân Việt chỉ chấp nhận Neang Khmau, vậy Mé Sar tại sao lại không được tiếp nhận?
Để lý giải nguyên nhân này, theo tác giả, chúng ta cần truy ngược lại chức năng của các vị Mẫu ở Nam Bộ. Không giống như tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ, Tứ phủ ở Bắc Bộ đó là mỗi vị Mẫu phụ trách những “phủ” khác nhau; tín ngưỡng thờ Mẫu ở Nam Bộ về bản chất, như tác giả đã đề cập chính là có sự tương đồng với Mẫu Thoải hoặc Mẫu Địa trong tín ngưỡng Tam phủ, Tứ phủ. Với điều kiện sông nước nhiều, yếu tố “nước” rất quan trọng trong việc phát triển đời sống vật chất. Do đó, việc phụng thờ thêm vị Nữ thần Mé Sar là không cần thiết. Rất nhiều nhà nghiên cứu đã nhận định, hình tượng Linh Sơn Thánh Mẫu Bà Đen chính là kết quả của sự hỗn dung văn hóa Chăm – Khmer – Việt. Cụ thể hơn, trong văn hóa Chăm, vị Nữ thần xứ sở của họ chính là Po Inư Nagar còn được biết đến với tục danh là Bà Đen (Muk Juk). Chính hình tượng này đã kết hợp với vị Nữ thần Neang Khmau của người Khmer đã tạo nên hình tượng Linh Sơn Thánh Mẫu ngày nay. Sự hỗn dung của các dạng thức thờ Mẫu của ba tộc người Chăm – Khmer và Việt được tác giả tối giản hóa theo công thức bên dưới:

Sơ đố: Nguồn gốc ra đời của hình tượng Linh Sơn Thánh Mẫu – Bà Đen
Trước đây, khi những người hành hương muốn lên viếng Bà phải lên núi mất hơn hai tiếng đồng hồ. Sau này thì đã có hệ thống cáp treo và máng trượt hỗ trợ rất nhiều cho du khách và những người hành hương di chuyển lên và xuống núi dễ dàng hơn. Tuy nhiên, hiện nay vẫn có một số người (đặc biệt là những du khách trẻ tuổi) muốn thử sức chinh phục ngọn núi vẫn có thể lên núi bằng đường bộ.
Ngoài chính điện thờ Linh Sơn Thánh Mẫu, trên đỉnh núi còn có động Ba Cô, thờ Bà Chúa Tiên và Ba Cô[2], trong động có biển đề “Chúa Tiên Nương Nương, Tam vị Thánh Cô”bằng chữ Hán. Bên cạnh có chùa Hang (hay còn có tên chữ là Long Châu Tự). Chùa Hang vốn là một cái hang, diện tích không lớn (khoảng 20 mét vuông), bên trong có thờ Bà Đen và Bà Trắng (có thể là Bà Chúa Xứ); Bà Đen mặc áo đỏ, khoác áo màu vàng, đầu đội vương miện; Bà Trắng mặc áo màu xanh trắng, cũng khoác áo màu vàng và đầu có đội vương miện; hai bên là tượng hai Bà hầu mặc áo vàng rực rỡ. Phía trước còn có thờ Ngọc Hoàng Thượng Đế và Địa Tạng Bồ Tát, thấp hơn một chút là tượng Tam Thế Phật. Lùi ra phía cửa hang là tượng Quan Thế Âm Bồ Tát, Phật Thích Ca, Thập Điện Diêm Vương và tượng Hộ pháp. Đằng trước cửa chùa Hang là hai pho tượng của Quan Âm và Diêu Trì Kim Mẫu.
Theo các nguồn tài liệu mà tác giả tiếp cận được thì khu di tích núi Bà Đen được xây dựng khoảng từ cuối thế kỷ XIX (năm 1872), khi ấy chỉ có miếu thờ Linh Sơn Thánh Mẫu được xây dựng rất đơn sơ. “Trong ghi chép của Trịnh Hoài Đức ở cuốn Gia Định Thành thông chí vào đầu thế kỷ XIX thì ở trên núi Bà Đen chỉ có chùa Linh Sơn (hay Vân Sơn tự), tức tiền thân của Linh Sơn Tiên Thạch tự hiện nay, mà không thấy ông nhắc đến miếu thờ bà Đen. Chắc chắn miếu thờ Linh Sơn Thánh Mẫu trên núi Bà Đen được biết đến nhiều hơn qua truyền thuyết vua Gia Long được bà báo mộng cứu giúp khi còn tranh chấp với quân Tây Sơn trong những năm cuối thế kỷ XVIII, nên để tri ân bà, vua Gia Long khi lên ngôi đã cho người đúc tượng bà bằng đồng đen để thờ và sắc phong cho bà là Linh Sơn Thánh Mẫu. Vì thế, có thể điện bà được xây dựng khang trang hơn vào những năm cuối thế kỷ XIX, thời nhà Nguyễn trị vì; rồi kể từ đó đến nay người ta đã nhiều lần trùng tu điện Bà, cùng chùa Linh Sơn Tiên Thạch và xây dựng thêm nhiều chùa chiền, miếu điện thờ tự hỗn hợp nhiều loại hình tôn giáo tín ngưỡng khác nhau trên núi Bà Đen…” [2,tr.318].
Ngoài ra, phía sau nơi thờ tự chính của Bà, ở trên cao người ta còn thiết kế một pho tượng Phật nằm (hay còn gọi là “Phật nhập Niết Bàn”) bằng đá khá lớn, toàn thân trắng toát, trông rất quy mô và hoành tráng.
Về điện Bà, thực chất là được dựng lên từ một mái hang đá, phần ngoài được xây thêm cho rộng rãi. Từ ngoài vào trong lần lượt hệ thống điện thờ như sau:
+ Ở ngoài sân trước điện là tượng Phật Bà Quan Âm toàn thân, khoác áo trắng, tay cầm bình nước cam lồ.
Lễ vía Bà được tổ chức chính thức vào các ngày 4, 5 và 6 tháng 5 Âm lịch hằng năm, trùng với dịp Tết Đoan Ngọ (Tết giết sâu bọ, tiêu diệt các loài sâu gây hại cho cây trồng). Diễn trình lễ hội tuần tự như sau:
+ Ngày mùng 4 tháng 5 thì lần lượt diễn ra các hoạt động như: Cử hành lễ tụng kinh niệm Phật; đến trưa thì tiến hành lễ cúng Ngọ, lễ cúng bá tính thọ trai, lễ cáo yết Bà Đen, lễ khai kinh và lễ cầu siêu bá tính. Tuy nhiên hoạt động đáng chú ý hơn cả là “lễ tắm Bà” (tương tự như lễ tắm Bà Chúa Xứ) diễn ra vào đêm mùng 4 rạng sáng mùng 5; lễ tắm ở đây được diễn ra bí mật và không nhiều người được tham dự. Công việc này do những người phụ nữ nhanh nhẹn đảm nhận, người ta chuẩn bị cho nghi lễ này khá chu đáo, như: nấu nước thơm bằng các loại hoa có nhiều hương thơm ngát… rồi lọc lấy nước thơm tắm tượng; cùng nhiều khăn mặt bông mới tinh, nước hoa các loại hảo hạng… và xiêm y mới để thay cho bà… Khi ấy người ta đóng kín cửa cung cấm lại, chỉ có những người phụ nữ được phân công từ trước là vào đó làm lễ tắm tượng và thay xiêm y mới cho bà, nghi thức này kéo dài khoảng một tiếng đồng hồ… những chiếc khăn đã dùng lau tượng bà, hoặc nước đã dùng nhúng khăn lau tượng, các thứ hoa quả… liên quan đến lễ này đều được coi là lộc, là bùa có ý nghĩa linh thiêng đối với người trần gian….
+ Đến sáng mùng 5 thì có hoạt động lễ tế với việc dâng 10 loại lễ vật: Hoa, đèn, nhang, trà, quả, thực, bỉnh, thủy xoàn, châu báu. Theo Ngô Đức Thịnh thì hoạt động này là “… một nghi thức có phần trộn lẫn giữa Đạo và Phật” [2,tr.302]. Tối mùng 5 thì có hát múa Bóng rỗi.
+ Sang đến mùng 6 tháng 5 thì tiếp tục diễn ra các nghi lễ của Phật giáo, lễ cúng Ngọ và thí thực cô hồn, đàn tràng viên mãn. Ngày trước việc hát chầu, hát bội kéo dài đến tối mùng 8 mới kết thúc nhưng hiện nay thì kết thúc sớm hơn.
Những hoạt động trên trong lễ vía Bà đều do các vị sư tăng chủ trì theo hệ thống nghi lễ và nghi thức của Phật giáo. Tuy nhiên, khi so sánh với lễ cúng Phật ở vùng Bắc Bộ thì phong phú và vui hơn, vì có dàn nhạc hiện đại, có vai trò như một ban nhạc nhẹ đệm cho các nhà sư làm lễ cúng Phật.
Với những đặc điểm như vậy, một số đặc điểm mà tác giả rút ra được từ lễ hội vía Bà như sau:
+ “Trong lịch sử, về thực chất, đã không có chỗ đứng nào cho một thứ chủ nghĩa độc tôn, độc quyền về văn hóa tâm linh hay hệ tư tưởng. Sự đa dạng của môi trường ý thức tâm linh Việt truyền thống đã trải ra trên một biên độ rất rộng…” [1: tr.31]. R. Redfield, Woodside, Ysun Yu đã đưa ra cặp khái niệm Little tradition (truyền thống nhỏ) – Great tradition (truyền thống lớn) để chỉ một bên là những tín ngưỡng và lối sống của quần chúng bình dân; còn bên kia là chỉ tôn giáo, hệ tư tưởng. Trong lễ hội vía Bà Đen, ta thấy rõ cặp khái niệm Little tradition – Great tradition trong đó, khi mà đây là một lễ hội của một trong số những hình thức thờ Mẫu của Việt Nam nói chung, của vùng Nam Bộ nói riêng nhưng tự thân nó lại mang những sắc màu (nghi lễ, nghi thức) của Phật giáo.
+ Thứ hai, khi mà quá trình giao lưu và tiếp biến văn hóa giữa văn hóa Chăm – văn hóa Khmer – văn hóa Việt đã xảy ra, kết hợp với việc đã được nhà nước phong kiến của triều Nguyễn công nhận thì hình tượng Bà Đen đã hình thành và xâm nhập vào hệ thống thần linh của người Việt ở Nam Bộ. Điều này đã xảy ra vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX.
+ Lễ hội vía Bà cũng là một minh chứng cho đặc điểm văn hóa chung của vùng Nam Bộ mà xuyên suốt công trình, tác giả đã đề cập đến rất nhiều, đó chính là tính mở. Văn hóa dân gian kết hợp với văn hóa Phật giáo đã tạo nên một lễ hội đa sắc màu trong hệ thống lễ hội nói chung của vùng Nam Bộ.
+ Hai bên trái phải của điện thờ Bà là hai ngôi miếu nhỏ thờ ông Tà bằng tảng đá, tương tự như hình tượng linga. Có lẽ đây chính là minh chứng cho sự giao lưu tiếp biến văn hóa với tộc người Khmer rõ nét nhất, bởi vì trong tín ngưỡng của người Khmer có thờ một vị thần là thần Nieaktà. Theo Ngô Đức Thịnh thì “ông tà là vị thần thổ địa, ai bị bệnh đến vái cục đá thì khỏi, cũng có thể người ta đến cầu có con”
+ Hai bên rìa tường có đặt bàn thờ của Tứ vị Sơn Thần: Đông phương Sơn Thần, Tây phương Sơn Thần, Nam phương Sơn Thần, Bắc phương Sơn Thần.
+ Ngay trước cửa vào điện Bà có dựng pho tượng toàn thân của Diêu Trì Địa Mẫu – một vị nữ thần trong Đạo giáo của Trung Quốc khoác áo choàng màu xanh lục.
+ Trong chính điện có bày tượng thờ của ba vị, bao gồm: Ở giữa là tượng của Linh Sơn Thánh Mẫu, mặc áo đỏ; bên phải là Bà Mặt Trắng, mặc áo xanh da trời; Bà bên trái mặc áo xanh nõn chuối mà theo Ngô Đức Thịnh thì đây chính là Bà Rá.
Còn đối với chùa Linh Sơn Tiên Thạch thì tại đây lại thờ thuần túy về các vị Phật trong Phật giáo. Hệ thống thần và Phật được thờ tại đây bao gồm: Phật Thích Ca, Quan Thế Âm, Đại Thế Chí Bồ Tát, Thập Điện Diêm Vương, Thập Bát La Hán…
Trên bước đường mở cõi về phương Nam, hành trang mang theo của lớp cư dân Việt không đơn thuần chỉ là những nổi niềm, những khát khao về sự mưu cầu hạnh phúc, ấm no vùng đất mới, mà hơi nữa, đó còn là những giá trị văn hóa tinh thần đầy tính nhân văn chốn quê hương. Sự hiện sinh của vị Mẫu thần “Linh Sơn Thánh Mẫu” chính là một biểu hiện sống động cho “hành trang” ấy của cộng đồng người Việt. Ở vị Mẫu này, không chỉ ẩn chứa trong đó những giá trị nhân sinh mà xa hơn nữa còn là biểu hiện cho tinh thần đoàn kết của các cộng đồng tộc người khác; hay nói khác đi, vị Mẫu thần này chính là một sản phẩm chung trong tư duy, nhận thức về thế giới quan của hai chủ thể người Việt – Khmer. Nó đã, đang và sẽ là một nét đẹp trong sinh hoạt tâm linh của toàn bộ người dân vùng đất mới Nam Bộ.
Tài liệu tham khảo:
1. Nguyễn Thừa Hỷ (2012), Văn hóa Việt Nam truyền thống một góc nhìn, NXB Thông tin Truyền thông.
2. Ngô Đức Thịnh (2009), Đạo Mẫu Việt Nam (tập 1), NXB Tôn giáo.
Chú thích:
[1]: Nàng Đinh hay Nàng Đênh đều để chỉ một người là Bà Đen, tùy từng tài liệu mà có những tên gọi khác nhau.
[2]: Tương truyền ngày xưa có ba cô gái quê ở Long An về tu hành và qua đời trong động này nên tên gọi động Ba Cô mới xuất hiện.
[3]: Một số tài liệu thì nhận định đây là tượng của Linh Sơn Thánh Mẫu, nhưng theo quan sát của tác giả, đây là tượng của Phật Bà Quan Âm thì chính xác hơn.
[4]: “Vào một ngày sau vụ mùa nông dân chúng đang ăn mừng vì trúng mùa, nhưng sâu bọ năm ấy kéo dày ăn mất cây trái, thực phẩm đã thu hoạch. Nhân dân đau đầu không biết làm cách nào để có thể giải được nạn sâu bọ này, bỗng nhiên có một ông lão từ xa đi tới tự xưng là Đôi Truân. Ông chỉ dân chúng mỗi nhà lập một đàn cúng gồm đơn giản gồm có bánh gio, trái cây sau đó ra trước nhà mình mà vận động thể dục. Nhân dân làm theo chỉ một lúc sau đó sâu bọ đàn lũ té ngã rã rượt. Lão ông còn bảo thêm: Sâu bọ hằng năm vào ngày này rất hung hăng, mỗi năm vào đúng ngày này cứ làm theo những gì ta đã dặn thì sẽ trị được chúng. Dân chúng biết ơn định cảm tạ thì ông lão đã đi đâu mất. Để tưởng nhớ việc này, dân chúng đặt cho ngày này là ngày “Tết diệt sâu bọ”, có người gọi nó là “Tết Đoan ngọ” vì giờ cúng thường vào giữa giờ Ngọ” [3].
[5]: Liên quan đến sự kiện Lê Văn Duyệt dâng sớ về triều đình nhà Nguyễn sau khi khẳng định sự hiển linh của Bà; sau đó vua Gia Long đã phong cho Bà là “Linh Sơn Thánh Mẫu”. Ngoài ra thì Bảo Đại cũng có sắc phong cho Bà là “Dực Báo trung hưng linh phủ chi thần” vào năm 1935.
[6]: Đây chỉ là nhận định của Ngô Đức Thịnh, tác giả vẫn chưa khẳng định quan điểm của ông là có phù hợp hay không.( nguồn internet )

LICH SỬ ĐIA DANH TÂY NINH ( P.1 )I. ĐỊA DANH THIÊN NHIÊN:1- Bà Đen là tên ngọn núi cách thị xã Tây Ninh 15 km, cao 986m,...
15/06/2019

LICH SỬ ĐIA DANH TÂY NINH ( P.1 )
I. ĐỊA DANH THIÊN NHIÊN:
1- Bà Đen là tên ngọn núi cách thị xã Tây Ninh 15 km, cao 986m, một điểm du lịch nổi tiếng. Cũng gọi là núi Bà.
Có 5 giả thuyết giải thích nguồn gốc của địa danh này:
a/.Nàng Đênh quyết chí đi tu ở núi; cha mẹ ép duyên; nàng trốn biệt tích; tên núi Bà Đênh nói chệch thành Bà Đen.
b/. Cô Lý Thị Thiên Hương yêu và định lấy một trí thức tên Lê Sĩ Triệt, nhưng bị tên công tử bắt cóc; nàng tuẫn tiết; vua phong cho nàng là Linh Sơn Thánh mẫu.
c/. Nàng Rê Đeng cùng chàng trai đắp núi thi; cuối cùng nàng thắng, tên nàng trở thành tên núi;
d/. Nữ Oa và Tứ Tượng thi đắp núi; nếu Tứ Tượng thắng thì thành vợ chồng; cuối cùng nàng thắng; núi nàng đắp trở thanh núi Bà Đen.
e/. Mẹ Đen: Có một nữ thần của người Khmer, gọi là “Mẹ Đen” (Néang Khmâu), mà hòn núi là bàn chân của bà nên trước đây thường gọi là Phnom Chơn Bà Đen (người Việt gọi núi Chơn Bà Đen; hiện trên núi còn dấu chân này. Chúng tôi vừa đến đó (2009) và thấy dấu chân này khắc trên đá, lớn hơn dấu chân người một chút. Thuyết thứ 5 có lý nhất.
2- Cái Răng là rạch ở xã Thanh Điền, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.
Cái Răng còn là tên quận của thành phố Cần Thơ; tên cầu trên một tuyến đường ở tỉnh An Giang và là tên đường nông thôn ở huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau.
Có ý kiến cho rằng Cái Răng do từ Khmer Kran “cái cà ràng” mà ra. Chúng tôi nhận thấy: k- thường biến thành cà (crème > cà rem) chứ không biến thành cái. Cái là “rạch” (ở Nam Bộ có độ 300 địa danh mang từ Cái ở đầu); Răng: có lẽ do Kran.
3- Chàm là hang ở núi Bà Đen, nơi có nhiều đồng bào Chăm vào nghỉ ngơi, ăn uống. Chàm là từ chỉ người, nướcChăm / Chămpa, vì trước đây họ từng ở nơi này.
4- Rỏng Tượng là tên một dòng nước ở tỉnh Tây Ninh. Cũng gọi là Láng Tượng.
Rỏng Tượng là đường khuyết sâu do voi đi lại nhiều lần tạo nên.
5- Trao Trảo là gò ở xã Cẩm Giang, huyện Gò Dầu.
Trao Trảo có lẽ là biến âm của tên cây trao tráo, là “loại cây cao 3-4m, thân không g*i, trái dẹp, không ăn được, lá giống lá quýt”.
Tiếp theo là địa danh chỉ vùng.
6- Bàu Nâu là địa điểm ở huyện Gò Dầu.
Bàu Nâu là cái bàu, ở đó có cây nâu - một loại “dây leo, củ có màu đen dùng nhuộm vải”. Ở tỉnh Tiền Giang có Giồng Nâu.
7- Bến Đổi là địa điểm nay thuộc xã Cẩm Giang, huyện Gò Dầu. Cũng gọi Trường Đổi.
Bến Đổi là “nơi trao đổi hàng hoá giữa người Việt và người Chăm” lúc quân Pháp mới xâm chiếm vùng này [8].
8- Bến Kéo là địa điểm thuộc xã Long Thành, tỉnh Tây Ninh, trên qưốc lộ 22, cách tỉnh lỵ 8 km. Vì trước kia đường sá khó đi nên hàng hoá từ Sài Gòn chở đến đây phải tập trung lại để thuê xe bò chở tiếp.
Bến Kéo là “bến tập trung xe để kéo hàng”.
9- Bố Heo là địa điểm ở trong núi Bà Đen.
Bố Heo có thể là khu có nhiều cây bố, có heo rừng sinh sống ở đó. Cây bố cũng gọi là cây đay, là “cây trồng thuộc loại thân cỏ, vỏ thân có thể tạo sợi dùng làm bao tải, dây buộc”. Có lẽ Bố trong Bố Lá ở Bình Phước cũng là từ này.
10- Gò Dầu Hạ và Gò Dầu Thượng là hai khu vực thuộc huyện Gò Dầu.
Gò Dầu Hạ là “gò cây dầu ở phía dưới” và Gò Dầu Thượng là “gò cây dầu ở phía trên”, Gò Dầu Hạ xa biên giới Việt Nam-Campuchia hơn Gò Dầu Thượng..
Kế đến là tên công trình xây dựng.
II. TỪ CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG:
1- Dầu Tiếng là hồ nhân tạo ở xã Phước Minh, huyện Dương Minh Châu, cách thị xã Tây Ninh 20 km, diện tích 27.000ha, chứa 1,5 tỉ mét khối nước để phục vụ tưới tiêu cho tỉnh Tây Ninh và thành phố Hồ Chí Minh. Dầu Tiếng còn là tên huyện và thị trấn của tỉnh Bình Dương, được tách ra từ huyện Bến Cát từ năm 1999.
Chúng tôi chưa biết nguồn gốc và ý nghĩa của địa danh này.
2- Mộc Bài là cửa khẩu giữa Việt Nam và Campuchia, ở huyện Gò Dầu, diện tích 21.284ha, có 180.000 lao động tại chỗ; nơi trao đổi hàng hoá giữa hai nước.
Mộc Bài gốc Hán Việt, nghĩa là “cái thẻ hay cái bảng bằng gỗ để làm dấu, chỉ ranh đất” (tablette).
3- Ông Năm Vinh là tên bến đò ở huyện Gò Dầu. Cũng gọi là bến đò Cầu Sắt.
Ông Năm Vinh là Trình Minh Vinh, cha của Trình Minh Thế, độc quyền quản lý, thường xuyên có hai chiếc tàu đò chạy từ Cầu Sắt đến Cẩm Giang và ngược lại [9].
4- Tha La là vùng đất ở xã An Hoà, huyện Trảng Bàng. Tha La còn là tên ao ở xã Tân Lý Tây, tỉnh Tiền Giang; tên xóm ở huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long, tên chợ ở huyện Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long.
5- Tha La gốc Khmer Sa-la, có hai nghĩa là “trường học” và “chòi ở bên đường để khách nghỉ chân”.
6- Trại Bí là địa điểm gần núi Bà Đen, thuộc xã Tân Phong, huyện Tân Biên, cách thị xã Tây Ninh 22km.
Trại Bí là nơi mà những người đi chặt củi, bứt mây rừng đem theo bí nấu canh, bỏ hột nên bí mọc khắp nơi.
7- Gò Chai là bến phà vượt sông Vàm Cỏ Đông, thuộc huyện Châu Thành.
Gò Chai là gò có nhiều cây chai mọc. Chai là loại cây cho mủ đóng cục, nấu chảy để thắp, đốt.
8- Gò Kén là địa điểm ở xã Hiệp Tân, huyện Hòa Thành.
Gò Kén là gò đất rộng có mọc nhiều cây kén, một loại cây có lá xanh, trái chín như trái hồng đào.
III. ĐỊA DANH HÀNH CHÁNH:
Sau cùng là địa danh hành chính.
1- TÂY NINH:
Địa danh Tây Ninh hiện nay vừa là tên tỉnh vừa là tên thị xã.
Tỉnh Tây Ninh hiện nay có diện tích 4.029,6km2, dân số 1.066.402 người (2009), gồm thị xã Tây Ninh và 8 huyện: Bến Cầu, Châu Thành, Dương Minh Châu, Gò Dầu, Hoà Thành, Tân Biên, Tân Châu, Trảng Bàng với 8 thị trấn, 5 phường và 82 xã.
Thị xã Tây Ninh gồm 5 phường: 1, 2, 3, 4, Hiệp Ninh và 5 xã: Bình Minh, Ninh Sơn, Ninh Thạnh, Tân Bình, Thạnh Tân.
Ở mùa thu năm 1836, Tây Ninh là một phủ của tỉnh Gia Định, gồm hai huyện với 7 tổng và 56 xã thôn. Năm 1878, Tây Ninh là một hạt của khu vực Sài Gòn, gồm 2 huyện Tân Ninh và Trảng Bàng. Đến năm ngày 1-1-1900, Tây Ninh trở thành một tỉnh của Nam Bộ [3].
Tỉnh Tây Ninh được thành lập lại ngày 22-10-1956 (tỉnh lỵ Tây Ninh). Ngày 3-1-1957, tỉnh Tây Ninh có 3 quận (Châu Thành Tây Ninh, Gò Dầu Hạ và Trảng Bàng). Quận Châu Thành Tây Ninh gồm 6 tổng; quận Gò Dầu Hạ gồm 3 tổng và quận Trảng Bàng chỉ có 1 tổng (Hàm Ninh Hạ).
Trong Mê-kông ký sự, người ta thấy ở Trung Quốc hiện giờ cũng có địa danh Tây Ninh.
Tây Ninh gốc Hán Việt, nghĩa là “an ninh ở phía tây”.
Tây Ninh: người Khmer xưa gọi Tây Ninh là Srok Rôn Damrey (xứ chuồng voi). Ở Tây Ninh có núi Bà Đen (Bà Đinh), cũng gọi là núi Điện Bà, Chiêng Bà Đen (pic de Badinh). Vua Gia Long đã phong cho Bà là "Linh Sơn Thánh Mẫu". Người Khmer có thờ một nữ thần gọi là Mẹ Đen. Theo truyền thuyết thì núi Bà Đen là bàn chân của Bà.
2- Bến Cầu là huyện của tỉnh Tây Ninh, diện tích 233,3km2, dân số 59.000 người (2006), gồm thị trấn Bến Cầu và 8 xã: An Thạnh, Long Chữ, Long Giang, Long Khánh, Long Phước, Long Thuận, Lợi Thuận, Tiên Thuận. Tên huyện ra đời năm 1961.
3- Bến Cầu là “bến nằm cạnh cái cầu”. Chúng tôi chưa biết vị trí bến và cây cầu cụ thể nào ở đây.
4- Châu Thành là huyện của tỉnh Tây Ninh, diện tích 571,3km2, dân số 119.200 người (2006), gồm thị trấn Châu Thành và 14 xã: An Bình, An Cơ, Biên Giới, Đồng Khởi, Hảo Đước, Hoà Hội, Hoà Thạnh, Long Vĩnh, Ninh Điền, Phước Vinh, Thái Bình, Thanh Điền, Thành Long, Trí Bình. Tên huyện ra đời năm 1942.
Châu Thành đồng nghĩa với thành phố. Huyện nào bao quanh thị xã hoặc thành phố thì gọi là huyện Châu Thành. Ở Nam Bộ hiện có tất cả 11 huyện mang tên Châu Thành.
5- Dương Minh Châu là huyện của tỉnh Tây Ninh, diện tích 606,5 km2, dân số 99.500 người (2006), gồm thị trấn Dương Minh Châu và 10 xã: Bàu Năng, Bến Củi, Cầu Khởi, Chà Là, Lộc Ninh, Phan, Phước Minh, Phước Ninh, Suối Đá, Truông Mít.
Dương Minh Châu (1912-1947) quê tại làng Linh Thạnh, tỉnh Tây Ninh, là Chủ tịch Uỷ ban Kháng chiến Việt Minh tỉnh Tây Ninh, đại biểu Quốc hội khoá 1, hy sinh trong kháng chiến chống Pháp.
6- Gò Dầu là huyện của tỉnh Tây Ninh, diện tích 250,5km2, dân số 135.300 người (2006), gồm thị trấn Gò Dầu và 8 xã: Bàu Đồn, Cẩm Giang, Hiệp Thạnh, Phước Đông, Phước Thạnh, Phước Trạch, Thanh Phước, Thạnh Đức.
Gò Dầu gốc thuần Việt, vốn có nghĩa là “gò có nhiều cây dầu”.
7- Trảng Bàng là quận từ ngày 3-1-1957, gồm quận lỵ Gia Lộc và 7 xã: An Hoà, An Tịnh, Đôn Thuận, Gia Bình, Gia Lộc, Lộc Hưng, Phước Chỉ.
Hiện nay, Trảng Bàng là huyện của tỉnh Tây Ninh, diện tích 337,8 km2, dân số 139.400 người (2006), gồm thị trấn Trảng Bàng và 10 xã: 7 xã cũ và 3 xã mới: Bình Thạnh, Hưng Thuận, Phước Lưu.
8- Trảng Bàng được dùng làm địa danh hành chính năm 1878. Trảng là khoảng đất rộng giữa rừng hoặc giữa hai khu rừng. Còn Bàng có lẽ là cỏ bàng. Vậy Trảng Bàng vốn có nghĩa là cái trảng có nhiều cỏ bàng. Còn theo Trương Vĩnh Ký, trước kia người Khmer gọi vùng đất này là Srôk Oknha Păn (xứ Ông quan Păn).
Tiếp theo, chúng tôi thử giải mã một số tên xã gốc thuần Việt.
9- Bàu Đồn là xã của huyện Gò Dầu.
Bàu Đồn là “cái bàu ở gần một đồn lính”. Chưa biết cụ thể đồn này tên gì.
10- Bàu Năng là xã của huyện Dương Minh Châu.
Bàu Năng có lẽ có dạng gốc là Bàu Năn, tức “bàu cỏ năn”, bị viết sai chính tả.
11- Bến Củi là xã của huyện Dương Minh Châu.
Bến Củi là “bến chứa nhiều củi”.
12- Cầu Khởi là xã của huyện Dương Minh Châu.
Cầu Khởi có dạng gốc là Cầu Khỉ, chỉ chiếc cầu nhỏ và không vững chắc.
13- Chà Là là xã của huyện Dương Minh Châu.
Chà Là có lẽ là tên vùng có nhiều cây mọc chà là nhiều ở vùng này.
14- Mỏ Công là xã của huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh. Chúng tôi chưa biết nguồn gốc và ý nghĩa của địa danh này.
15- Suối Dây là xã của huyện Tân Châu.
Suối Dây có lẽ là “con suối chảy qua vùng rừng có nhiều dây leo”.
16- Suối Đá là xã ở huyện Dương Minh Châu.
Suối Đá vì dưới lòng và hai bên suối có nhiều đá lớn nhỏ.
17- Suối Ngô là xã của huyện Tân Châu.
Suối Ngô có lẽ là “suối chảy qua vùng trồng nhiều bắp”.
18- Truông Mít là xã của huyện Dương Minh Châu.
Truông Mít là “vùng đất hoang, rậm, có nhiều cây mít”.
Sau đây chúng tôi thử giải mã một số tên xã gốc Hán Việt.
19- Cẩm Giang là xã của huyện Gò Dầu, có nghĩa là “sông gấm”.
20- Long Chữ là xã của huyện Bến Cầu.Long Chữ có lẽ có dạng gốc là Long Chử, từ tổ Hán Việt, nghĩa là “bãi lớn/thịnh vượng”. Do người ta không biết nghĩa của từ Chử và rất quen với từ Chữ nên viết sai.
21- Hảo Đước là xã của huyện Châu Thành. Hảo Đước có âm gốc là Hảo Đức, có nghĩa là “đạo đức và tốt đẹp”. Có lẽ do kiêng húy Nguyễn Huỳnh Đức hoặc Trịnh Hoài Đức, là những quan lớn ở thế kỷ 19 nên phải nói chệch.
22- Tân Bình là xã của thị xã Tây Ninh và huyện Tân Biên, có nghĩa là “yên bình ở nơi đất mới”.
23- Tân Phong là xã của huyện Tân Biên, có nghĩa là “gió mới”.
24- Thanh Điền là xã của huyện Châu Thành, có nghĩa là “ruộng xanh”.
25- Trường Hòa là xã của huyện Hòa Thành, nghĩa là “hòa thuận lâu dài”.
26- Long Hoa: là tên do Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc của Đạo Cao Đài đặt ra khi thành lập ngôi chợ lớn nhất tỉnh Tây Ninh, nằm trọng vùng Thánh địa, là nơi sẽ diễn ra Đại Hội Long Hoa sau nầy theo giáo thuyết Đạo Cao Đài.
27- Hòa Thành là do sự kết hợp hai xã Trường Hòa và Long Thành lại thành lập một huyện hành chánh.
Trên đây chỉ là bước đầu khảo sát vài chục địa danh ở tỉnh Tây Ninh. Khi điều kiện cho phép, chúng tôi sẽ tiến hành nghiên cứu kỹ hơn, đầy đủ hơn địa danh ở vùng đất này. Tài liệu sưu tầm từ Lê Trung Hoa

Tên gọi xã "TRÀ VONG"
Trà Vong là cánh đồng ở phủ Tây Ninh nay là xã của huyện Tân Biên, Tỉnh Tây Ninh. Cũng gọi Trà Vơng. Tà Vong gốc Khmer, nguyên dạng là Tà Vong, nghĩa là "ông quan lớn", để chỉ tri phủ Tây Ninh Huỳnh Công Giản, Người đã anh dũng hi sinh để ngăn bước tiến quân xâm lược.

LI. ĐỊA DANH THIÊN NHIÊN:

28/05/2019

TÂY NINH - SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN

Theo các sử liệu vừa được Ban Tuyên giáo tỉnh ủy Tây Ninh công bố trong sách Tây Ninh 180 năm hình thành và phát triển (1836 - 2016) thì vùng đất Tây Ninh vốn được người Việt đến khai khẩn từ 300 năm trước.

Trước thế kỷ 16, Tây Ninh vẫn còn là một vùng hoang sơ. Đến thế kỷ 17, những lớp lưu dân người Việt từ vùng Ngũ Quảng - Đàng Trong vào vùng Đồng Nai - Gia Định khai khẩn ruộng vườn, lập làng dựng ấp.

Những lớp cư dân người Việt đã tụ cư tại Xóm Ràng (thuộc H.Củ Chi, TP.HCM ngày nay), sau đó tỏa dần lên, dừng chân ở các vùng đất ven sông Vàm Cỏ.

Họ sống rải rác ở Lò Mo, Trà Vơn, Tha La, Trường Đà (các địa danh thuộc tổng Hàm Ninh cũ, nay là H.Trảng Bàng) rồi dần phát triển thành những xóm rộng lớn hơn như: xóm Vàm Cỏ, xóm Rừng, xóm Gàu, xóm Tôn, xóm Giồng Nổi.

Qua quá trình khai phá đất đai, phát triển sản xuất của những nhóm lưu dân người Việt ấy, năm 1809, làng Bình Tịnh (nay là xã An Tịnh, H.Trảng Bàng) được thành lập.

Một lực lượng người Việt quan trọng khác trong buổi đầu khai phá vùng đất Tây Ninh là 720 lính biên cảnh, 5 đội thuyền với 15 chiếc do chúa Nguyễn bố trí dọc theo sông Vàm Cỏ vào giữa thế kỷ 18.

Theo gót lực lượng lính biên cảnh này, những cụm dân cư dần mọc lên dọc theo sông Vàm Cỏ, ven sông Khe Lăng (rạch Tây Ninh) và bến Tầm Long (H.Châu Thành ngày nay)...

Bắt đầu từ những điểm tụ cư ven sông rạch, cư dân người Việt đã mở rộng khai khẩn những vùng đất thấp, tạo nên vùng đất trù phú, ruộng vườn phì nhiêu.

Theo đó, cư dân người Việt đến Tây Ninh ngày một đông hơn, hình thành các ấp.

Đến những năm đầu thế kỷ XIX, có nhiều đợt nhập cư và hàng loạt cuộc khai thác quy mô lớn trên nhiều địa bàn thuộc vùng đất Tây Ninh.

Công cuộc khai khẩn vùng đất Tây Ninh chỉ thực sự diễn ra mạnh mẽ từ cuối thế kỷ 18, đầu thế kỷ 19.

Đặc biệt là khi vùng Đồng Nai - Gia Định mạnh lên, Tây Ninh lại trở thành một vị trí cực kỳ quan trọng.

Triều đình nhà Nguyễn đã cho thi hành những chính sách tích cực nhằm khai khẩn và bảo vệ vùng đất này. Năm 1749 (Kỷ Tỵ), ba anh em họ Huỳnh: Huỳnh Công Giản, Huỳnh Công Nghệ và Huỳnh Công Thắng ở vùng Nhật Tảo - Đàng Ngoài đến vùng đất Tây Ninh.

Ba ông cùng với đội binh mã của mình thực hiện cuộc Nam tiến, di dân khai hoang lập ấp và giữ gìn an ninh vùng đất biên cương.

Tháng 2.1698, Chúa Nguyễn Phúc Chu sai Thống suất Chưởng cơ Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lược xứ Đàng Trong, chính thức xác lập đơn vị hành chính của VN tại vùng đất mới.

Năm 1832, vua Minh Mạng chia toàn Nam kỳ làm sáu tỉnh, với tổng cộng 18 phủ, 43 huyện, vùng đất Tây Ninh thuộc trấn Phiên An . Đến năm Minh Mạng thứ 17 (1836) vua Minh Mạng cho đổi tên tỉnh Phiên An thành tỉnh Gia Định lập thêm phủ mới tên Tây Ninh.

Như vậy, năm Minh Mạng thứ 17 (năm 1836), phủ Tây Ninh chính thức được thành lập, gồm hai huyện Tân Ninh và Quang Hóa trực thuộc tỉnh Gia Định.

Địa danh Tây Ninh với tư cách là một đơn vị hành chính cấp phủ lần đầu tiên có tên trên bản đồ hành chính VN.

Năm 1859, quân Pháp tiến đánh Gia Định và sau đó chiếm lấy 3 tỉnh miền Đông Nam kỳ năm 1862.

Ngày 20.12.1899, chính quyền thực dân Pháp ban hành nghị định đổi tiểu khu Tây Ninh thành tỉnh Tây Ninh.

Trải qua những cuộc kháng chiến kéo dài gần 2 thế kỷ, đến nay, Tây Ninh có 8 huyện và 1 thành phố thuộc tỉnh, gồm: Trảng Bàng, Gò Dầu, Bến Cầu, Hòa Thành, Châu Thành, Dương Minh Châu, Tân Biên, Tân Châu và TP.Tây Ninh với 7 phường, 8 thị trấn và 80 xã.

Cơ cấu kinh tế hiện nay của Tây Ninh vẫn là nông nghiệp, công nghiệp và thương mại dịch vụ.

Có nhiều điểm du lịch với cảnh quan tuyệt đẹp như Tòa Thánh Cao Đài Tây Ninh, Hồ Ba Bể - Ma Thiên Lãnh, núi Bà Đen, Long Điền Sơn, Hồ Dầu Tiếng, Tháp Cổ Bình Thạnh, Siêu thị Long Hoa, Trung ương Cục Miền Nam Việt Nam ...

Có những món ăn đặc sản cho du khách như bánh canh, bánh tráng, muối ớt, thức ăn chay làm từ đậu nành ...

Đây là vùng đồng bằng, tương đối bằng phẳng, phù hợp với sự phát triển của các cây công nghiệp dài ngày như cây cao su, cây mãng cầu, chôm chôm, ...

Còn phù hợp cho sản xuất nông nghiệp ngắn ngày như: lúa nước, đậu phộng, đậu xanh, đậu nành, sắn (khoai mì), mía.

Nền kinh tế đang phát triển mạnh mẽ. Nhiều khu, cụm công nghiệp được đầu tư.

Cơ sở hạ tầng, kiến ​​trúc cảnh quan được quan tâm nhiều hơn và dần dần được nâng cấp rộng rãi và sạch sẽ

Con người và quê hương Tây Ninh luôn chân thành, cởi mở, khoan dung, biết ơn, và trách nhiệm.

Nội dung và ảnh: internet

Address

120 NGUYỄN VĂN LINH/HÒA THÀNH
Tây Ninh

Telephone

0909552627

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when TAY NINH travel guide posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share