MỘT VÒNG QUẢNG NGÃI

MỘT VÒNG QUẢNG NGÃI Quảng Ngãi - Ngã ba Đông Dương

12/05/2026

SỰ THẬT ĐẰNG SAU VỤ THU GIỮ 89 ĐỘNG VẬT TẠI QUẢNG NGÃI, KHÔNG CÓ CHUYỆN “BẮT CHIM CỦA DÂN”

Gần đây, trên mạng xã hội xuất hiện một số bài viết với giọng điệu mỉa mai về việc Công an tỉnh Quảng Ngãi phối hợp kiểm tra, xử lý các cơ sở nuôi nhốt động vật hoang dã (ĐVHD) trái phép. Chúng cố tình dùng những từ ngữ như "chiến công lẫy lừng", "nhằm dân mà ngắm" để biến một hoạt động thực thi pháp luật chính đáng thành một hành động "làm khó dân". Thế nhưng, sự thật lại hoàn toàn khác.

Thứ nhất, "Vài con chim" hay là sự tàn phá đa dạng sinh học? Chúng cho rằng nuôi vài con chim ngoài đồng không phải là quý hiếm. Tuy nhiên, thực tế kiểm tra đã phát hiện tới 19 cá thể thuộc danh mục loài nguy cấp, quý hiếm nhóm IIB. Đây là những loài mà pháp luật quy định nghiêm ngặt về việc khai thác và sử dụng. Nếu ai cũng tự cho mình quyền "nhốt vài con" làm thú vui, thì chẳng mấy chốc "đại ngàn" sẽ chỉ còn là những cánh rừng tĩnh lặng, không tiếng chim. Việc bảo vệ những loài này là bảo vệ sự cân bằng của hệ sinh thái cho chính con cháu chúng ta.

Thứ hai, thượng tôn pháp luật không có ngoại lệ. Mọi hoạt động kinh doanh, nuôi nhốt ĐVHD đều phải tuân thủ quy định về nguồn gốc, hồ sơ pháp lý. Việc phát hiện hàng chục cá thể không giấy tờ chứng minh nguồn gốc tại các cơ sở kinh doanh cho thấy đây không đơn thuần là "sở thích cá nhân" mà là dấu hiệu của việc tiếp tay cho nạn săn bắt, buôn lậu động vật rừng. Công an bắt tội phạm trộm cắp là nhiệm vụ, nhưng ngăn chặn tội phạm về môi trường cũng là trọng trách quan trọng không kém để giữ gìn an ninh môi trường bền vững.

Thứ ba, sự xuyên tạc ác ý về việc "tiêu hủy bằng cồn". Đưa ra những bình luận vô căn cứ về việc tang vật bị "tiêu hủy trên bàn nhậu" là hành vi xúc phạm danh dự lực lượng chức năng và đánh lừa dư luận. Mọi tang vật là động vật sống sau khi thu giữ đều có quy trình xử lý nghiêm ngặt: hoặc tái thả về tự nhiên, hoặc chuyển giao cho các trung tâm cứu hộ nếu sức khỏe không đảm bảo. Việc tung tin thất thiệt chỉ nhằm mục đích gây chia rẽ, làm giảm lòng tin của nhân dân vào nỗ lực bảo tồn thiên nhiên.

Bảo vệ động vật hoang dã không phải là chuyện "bắt chim của dân", mà là cuộc chiến chống lại sự ích kỷ và những hành vi tận diệt thiên nhiên. Chúng ta cần ủng hộ những bước đi quyết liệt của lực lượng chức năng Quảng Ngãi để "Đại ngàn" mãi xanh và tiếng chim mãi vang vọng. Đừng để những luận điệu hẹp hòi, thiếu hiểu biết dẫn dắt dư luận đi ngược lại với giá trị văn minh và bảo tồn!

(Thành Phát)

12/05/2026
12/05/2026

Giữa những ngày mùa rộn ràng, khi khắp các cánh đồng lúa chín vàng óng trải dài nơi vùng quê xã Xốp, tỉnh Quảng Ngãi, hình ảnh những cán bộ, chiến sĩ Công an xã không quản nắng gió, xắn quần lội ruộng, chung tay giúp người dân thu ho....

12/05/2026

NHẬN DIỆN VÀ ĐẤU TRANH VỚI LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG

Gần đây, một số trang mạng phản động, thù địch và tài khoản chống đối trên mạng xã hội liên tục đăng tải thông tin xuyên tạc về việc xây dựng lực lượng tham gia tuyên truyền, đấu tranh trên không gian mạng. Bọn chúng cố tình quy chụp đây là hoạt động “kiểm soát tư tưởng”, “bóp nghẹt tự do ngôn luận”, qua đó kích động tâm lý hoài nghi, chống đối trong dư luận xã hội.

Thực chất, đây là thủ đoạn quen thuộc của các thế lực thù địch nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, làm suy giảm niềm tin của Nhân dân đối với các cơ quan chức năng trong công tác bảo vệ an ninh tư tưởng và an ninh mạng. Cần khẳng định rằng bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác thông tin sai trái, thù địch trên không gian mạng là chủ trương đã được xác định rõ trong Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22-10-2018 của Bộ Chính trị khóa XII “về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”. Đây là nhiệm vụ quan trọng của cả hệ thống chính trị nhằm giữ vững ổn định chính trị, bảo vệ an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội trong bối cảnh các hoạt động chống phá trên internet ngày càng gia tăng. Bọn chúng cố tình bóp méo việc xây dựng lực lượng tuyên truyền, cộng tác viên và người có ảnh hưởng tích cực trên mạng xã hội như thể đây là hoạt động “đàn áp người dân”.

Tuy nhiên, trên thực tế, đây là phương thức truyền thông hiện đại được nhiều quốc gia áp dụng nhằm lan tỏa thông tin chính thống, phản bác tin giả, hạn chế tác động tiêu cực của các nội dung sai lệch, độc hại trên không gian mạng. Theo thống kê của cơ quan chức năng, mỗi năm xuất hiện hàng nghìn tin giả, thông tin sai sự thật trên mạng xã hội liên quan đến dịch bệnh, thiên tai, an ninh trật tự, chính trị và đời sống xã hội. Trong giai đoạn dịch COVID-19, nhiều đối tượng đã lợi dụng không gian mạng để tung tin thất thiệt, gây hoang mang trong Nhân dân, ảnh hưởng trực tiếp đến công tác phòng, chống dịch. Điều này cho thấy yêu cầu cấp thiết phải tăng cường đấu tranh với các thông tin xấu độc trên internet.

Các trang mạng phản động, thù địch cũng cố tình đánh tráo khái niệm giữa “tự do ngôn luận” và hành vi vi phạm pháp luật. Hiến pháp năm 2013 quy định công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí và tiếp cận thông tin; tuy nhiên, mọi quyền tự do đều phải trong khuôn khổ pháp luật, không thể lợi dụng để xuyên tạc, kích động chống Nhà nước, xúc phạm tổ chức, cá nhân hay gây ảnh hưởng đến an ninh quốc gia. Đồng thời, Luật An ninh mạng năm 2018 đã quy định nghiêm cấm hành vi sử dụng không gian mạng để tuyên truyền chống Nhà nước, phát tán thông tin sai sự thật, kích động gây rối và xâm phạm lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Vì vậy, việc phát hiện, ngăn chặn, xử lý nội dung vi phạm là hoạt động quản lý nhà nước bình thường, phù hợp với pháp luật Việt Nam và thông lệ quốc tế. Đáng chú ý, bọn chúng thường sử dụng các từ ngữ kích động, miệt thị như “bò đỏ”, “dư luận viên”, “AK47”… nhằm tạo tâm lý đối đầu, chia rẽ giữa Nhân dân với các lực lượng làm nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Đây là thủ đoạn tuyên truyền độc hại nhằm hạ thấp uy tín lực lượng chức năng và tạo môi trường thuận lợi cho các thông tin chống phá lan rộng. Thực tế cho thấy, không chỉ Việt Nam mà nhiều quốc gia trên thế giới cũng tăng cường quản lý không gian mạng và xử lý nghiêm tin giả, nội dung độc hại. Liên minh châu Âu (EU), Mỹ, Đức hay Singapore đều có cơ chế kiểm soát và xử lý các nội dung gây nguy hại đến an ninh xã hội. Điều này cho thấy quản lý không gian mạng là xu thế chung toàn cầu, không phải vấn đề riêng của Việt Nam như bọn chúng cố tình xuyên tạc.

Việc xây dựng lực lượng tham gia tuyên truyền, đấu tranh phản bác quan điểm sai trái trên không gian mạng là yêu cầu khách quan, cần thiết nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, giữ vững ổn định chính trị và bảo đảm an ninh quốc gia. Những luận điệu xuyên tạc của các trang mạng phản động, thù địch thực chất là âm mưu chống phá Đảng, Nhà nước, gây hoang mang dư luận và kích động tư tưởng chống đối trong xã hội.

(Tĩnh Hỏa)

12/05/2026

CẤP PHÉP HÀNH NGHỀ Y LÀ TRÁCH NHIỆM QUẢN LÝ, KHÔNG PHẢI “XIN - CHO” CẢM TÍNH

Những ngày gần đây, trên một số diễn đàn mạng xã hội xuất hiện những luận điệu xuyên tạc về quy định mới trong công tác khám bệnh, chữa bệnh theo Nghị quyết số 21/2026/NQ-CP ngày 29/4/2026 của Chính phủ về cắt giảm, đơn giản hóa điều kiện kinh doanh, thủ tục hành chính và phân cấp thẩm quyền thực hiện thủ tục hành chính trong lĩnh vực y tế. Chúng rêu rao rằng việc Chủ tịch UBND tỉnh có thẩm quyền cấp giấy phép hành nghề từ 01/7/2026 là “luật rừng”, là đưa quyền lực chính trị đè lên chuyên môn y khoa. Thế nhưng, nếu nhìn thẳng vào sự thật và quy trình pháp lý, chúng ta sẽ thấy đây là những suy diễn vô căn cứ, cố tình gây chia rẽ và làm hoen ố hình ảnh ngành y.

Thứ nhất, Chủ tịch tỉnh ký quyết định không có nghĩa là Chủ tịch tỉnh đi chấm điểm chuyên môn. Trong bộ máy hành chính, Chủ tịch UBND cấp tỉnh là người đứng đầu cơ quan hành chính cao nhất tại địa phương. Việc trao quyền cấp phép cho Chủ tịch tỉnh thực chất là thực hiện cơ chế “một đầu mối” trong cải cách hành chính. Cần hiểu rõ: Trước khi đặt bút ký, đã có một Hội đồng chuyên môn độc lập, các cơ quan tham mưu (Sở Y tế) và hệ thống kiểm tra năng lực hành nghề quốc gia thực hiện việc thẩm định. Chủ tịch tỉnh ký phê duyệt dựa trên kết quả đạt chuẩn chuyên môn đã được xác nhận trước đó. Đây là quy trình quản lý nhà nước chặt chẽ, không phải là việc một cá nhân “thích thì cho, ghét thì thôi” như những lời thêu dệt.

Thứ hai, đẩy mạnh phân cấp là để tăng trách nhiệm, không phải để tạo đặc quyền. Trước đây, việc cấp phép thường tập trung ở Bộ Y tế hoặc các cơ quan trung ương, dẫn đến sự chậm trễ và quá tải. Việc phân cấp về cho địa phương giúp quy trình nhanh gọn hơn, gần sát với thực tế nguồn lực y tế tại địa phương đó hơn. Đồng thời, khi Chủ tịch tỉnh là người ký, trách nhiệm quản lý nhà nước đối với chất lượng y tế trên địa bàn cũng được nâng cao. Nếu để xảy ra sai phạm, người đứng đầu địa phương phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và nhân dân. Đây là cách để bảo vệ quyền lợi người bệnh, chứ không phải là “cánh cửa quyền lực” để hành hạ bác sĩ.

Thứ ba, sự nghiệp y đức không thể bị lung lay bởi những luận điệu kích động. Chúng cho rằng quy định này khiến bác sĩ phải “bôi trơn” hay “làm hài lòng lãnh đạo”. Đây là sự xúc phạm nặng nề đến lòng tự trọng của hàng trăm ngàn thầy thuốc. Nghề y là nghề cao quý, và năng lực của một bác sĩ được chứng minh bằng kết quả điều trị, bằng sự sống của bệnh nhân và bằng chứng chỉ của Hội đồng Y khoa Quốc gia – một tổ chức chuyên môn độc lập. Không một vị Chủ tịch tỉnh nào có thể ép một bác sĩ giỏi trở thành yếu kém, và ngược lại. Việc thực thi pháp luật minh bạch trên môi trường số hiện nay càng khiến những hành vi “đi cửa sau” trở nên khó khăn hơn bao giờ hết.

Mọi sự thay đổi về chính sách đều hướng tới mục tiêu cuối cùng là sự ổn định và phát triển của xã hội. Việc quy định thẩm quyền cấp phép hành nghề cho Chủ tịch UBND tỉnh là bước đi cụ thể trong việc chuẩn hóa quản lý hành chính quốc gia. Đừng để những tư duy cực đoan, những cái nhìn đầy định kiến và ác cảm che mờ sự thật. Ngành y cần những trái tim nóng và những cái đầu lạnh, chứ không cần những lời kích động nhằm mục đích gây rối ren xã hội. Hãy tin tưởng vào sự chuyên nghiệp của đội ngũ thầy thuốc và sự nghiêm minh của pháp luật./.

(Hùng Đức)

12/05/2026

Cảnh giác trước trào lưu “ Chữa lành thuận tự nhiên”, “Chanh muối chữa bách bệnh”

“Khi cái bất thường tồn tại quá lâu, con người sẽ coi nó là bình thường. Một lời nói dối được lặp đi lặp lại đủ nhiều, đám đông sẽ coi nó là sự thật.”

Nhiều năm qua, mạng xã hội Việt Nam chứng kiến sự nở rộ của một dạng “KOL sức khỏe” tự phong - những cá nhân không dựa trên nền tảng y khoa chính thống nhưng lại xây dựng ảnh hưởng bằng các tuyên bố mang màu sắc “khám phá sự thật”, “thức tỉnh cộng đồng”, hay “cứu giúp người nghèo”. Những cái tên như “Tạ Đức Chính” hay “Bơ Thực Vật” thực chất chỉ là những ví dụ tiêu biểu cho một hiện tượng rộng lớn hơn: biến sự hoài nghi khoa học thành công cụ tạo ảnh hưởng xã hội. Điểm chung của các nhân vật này là liên tục công kích y học hiện đại, gieo rắc tâm lý chống bệnh viện, chống bác sĩ, chống vaccine và phủ nhận các thành tựu y học đã được kiểm chứng qua nhiều thập kỷ, thậm chí hàng thế kỷ. Những khẩu hiệu như “ngành y che giấu sự thật”, “virus chỉ là trò lừa”, “ung thư không tồn tại như người ta nói” hay “thải độc chữa được mọi bệnh” thường được lặp đi lặp lại với giọng điệu chắc chắn và kích động cảm xúc. Điều đáng nói là phần lớn các tuyên bố ấy không đi kèm nghiên cứu khoa học đáng tin cậy, không có phản biện chuyên môn, nhưng vẫn dễ dàng lan truyền vì đánh trúng tâm lý bất an và mất niềm tin của một bộ phận công chúng. Mạng xã hội đã góp phần khuếch đại hiện tượng này. Thuật toán của các nền tảng không vận hành dựa trên tiêu chí đúng hay sai về mặt khoa học; chúng ưu tiên nội dung tạo tranh cãi, giữ chân người xem lâu và kích thích tương tác mạnh. Vì vậy, những video “vạch trần sự thật”, công kích bác sĩ hay tố cáo bệnh viện thường lan truyền nhanh hơn rất nhiều so với các nội dung khoa học nghiêm túc vốn cần dữ liệu, kiểm chứng và diễn giải cẩn trọng. Trong môi trường mà cảm xúc được ưu tiên hơn bằng chứng, người nói tự tin thường dễ được tin hơn người nói chính xác.

Nguy hiểm hơn, nhiều “KOL sức khỏe” lại xây dựng hình ảnh bản thân như những người “dám nói sự thật”, “bị hệ thống đàn áp” hay “đứng về phía dân nghèo”. Cách xây dựng hình tượng này tạo ra một thứ “ảo giác chuyên môn”: người xem dễ nhầm lẫn giữa sự tự tin và năng lực khoa học thực sự. Chỉ cần một vài câu chuyện cá nhân, vài trải nghiệm được kể bằng cảm xúc mạnh và lặp đi lặp lại đủ lâu, nhiều người bắt đầu xem đó là chân lý thay vì một ý kiến thiếu kiểm chứng. Nghịch lý nằm ở chỗ, những người cực đoan chống vaccine hay chống hệ thống y tế cuối cùng vẫn phải dựa vào chính hệ thống mà họ công kích. Khi xuất cảnh, định cư, cho con đi học hay tiếp cận dịch vụ y tế tại các quốc gia phát triển, họ vẫn phải tuân thủ quy định tiêm chủng, khám sức khỏe và bảo hiểm y tế như mọi công dân khác. Điều đó cho thấy ranh giới rất rõ giữa phát ngôn trên mạng và lựa chọn thực tế khi đối diện với pháp luật, bệnh tật hay nguy cơ sức khỏe thật sự. Hệ quả xã hội của làn sóng phản khoa học này không dừng ở vài video gây tranh cãi. Khi người bệnh trì hoãn khám chữa, bỏ điều trị, từ chối vaccine hoặc đặt niềm tin vào các phương pháp “thải độc”, “năng lượng chữa lành” hay chữa bệnh vô căn cứ, hậu quả có thể là mất cơ hội điều trị, biến chứng nặng, thậm chí tử vong. Trong y học, nhiều căn bệnh chỉ có một “giai đoạn vàng” để can thiệp. Đánh mất thời điểm đó đồng nghĩa đánh mất luôn cơ hội cứu chữa. Cũng cần nhìn nhận rằng sự bùng nổ của hiện tượng này phần nào phản ánh khoảng trống quản lý trong môi trường số. Trong thời gian dài, việc một cá nhân không có chuyên môn nhưng công khai chẩn đoán bệnh, hướng dẫn điều trị hay phủ nhận kiến thức y khoa gần như không gặp chế tài đủ mạnh. Hàng nghìn video được phát tán liên tục, cộng đồng người theo dõi được xây dựng dưới danh nghĩa “vì cộng đồng”, “vì người nghèo”, trong khi nội dung lại cổ xúy cho tâm lý bài xích khoa học và thiếu kiểm chứng. Khi sự can thiệp đến quá chậm, nhiều người dễ lầm tưởng rằng “được nói công khai trên mạng” đồng nghĩa với “đúng”.

Một xã hội văn minh không cấm phản biện hay hoài nghi. Nhưng phản biện khoa học phải dựa trên bằng chứng khoa học; hoài nghi không thể trở thành cái cớ để phủ nhận toàn bộ tri thức đã được kiểm chứng bằng nghiên cứu, thực nghiệm và hàng triệu sinh mạng. Nếu không phân biệt được giữa tự do phát ngôn và trách nhiệm đối với sức khỏe cộng đồng, cái giá phải trả sẽ không chỉ là sự hỗn loạn thông tin, mà còn là những mạng sống bị đánh đổi bởi niềm tin sai lệch.

Sau khi các “KOL sức khỏe” bán được đường, bán được muối, bán được chanh, bán được liệu trình, sức khỏe của người bệnh được đáp lại bằng câu nói “Chết thì chôn chứ lo gì em”. Câu chốt đầy tính sự thật và phũ phàng với những người bệnh đang tuyệt vọng.

(Nhất Ân)

12/05/2026

CHỦ ĐỘNG CẢNH GIÁC, PHÒNG NGỪA, ĐẤU TRANH, NGĂN CHẶN NHỮNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VỀ LUẬT TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO

Nội dung Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo (sửa đổi) vừa được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 là minh chứng rõ nét cho nỗ lực của Nhà nước Việt Nam trong việc bảo hộ quyền tự do tâm linh của nhân dân. Thế nhưng, các thế lực thiếu thiện chí lại đang ra sức bóp méo thực tế, biến một đạo luật tiến bộ thành cái cớ để công kích chính quyền.

Việc Quốc hội khóa XVI thông qua Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo (sửa đổi) với tỷ lệ tán thành cao không chỉ là một thủ tục pháp lý, mà là sự cụ thể hóa tinh thần Hiến pháp về quyền con người.

Luật mới tập trung vào ba trụ cột chính: Đơn giản hóa - Minh bạch hóa - Tạo điều kiện tối đa. Việc cắt giảm các thủ tục rườm rà, chuyển từ cơ chế "xin - cho" sang "thông báo" đối với nhiều hoạt động tôn giáo không chỉ giúp các tổ chức tôn giáo tiết kiệm nguồn lực mà còn thể hiện sự tin tưởng, đồng hành của Nhà nước đối với các tổ chức này. Đây là bước đột phá nhằm tương thích với các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

Dù luật pháp đã rõ ràng, nhưng trên không gian mạng, các đối tượng xấu vẫn không ngừng tung ra các thông tin sai lệch. Thủ đoạn của chúng thường tập trung vào việc "đánh tráo khái niệm": Lập lờ giữa "quản lý" và "can thiệp": Chúng cố tình đánh đồng việc yêu cầu hoạt động trong khuôn khổ pháp luật là "can thiệp vào nội bộ". Cần khẳng định: Không một quốc gia nào trên thế giới cho phép các hoạt động tôn giáo nằm ngoài vòng pháp luật; Cắt xén văn bản: Các đối tượng trích dẫn rời rạc các quy định về xử lý vi phạm, cố tình lờ đi các chương hồi về quyền lợi, nhằm tạo ra cảm giác "siết chặt"; Đánh vào tâm lý đám đông: Sử dụng các vụ việc cá nhân vi phạm pháp luật (bị xử lý theo quy định hình sự hoặc hành chính) rồi gán ghép thành "đàn áp tôn giáo" để kích động lòng tin của tín đồ.

Một trong những điểm cần được làm rõ để đập tan các luận điệu xuyên tạc chính là tính tự chủ của tôn giáo. Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo (sửa đổi) khẳng định: Nhà nước không can thiệp vào công tác nhân sự, việc phong phẩm, bổ nhiệm hay các nghi lễ tôn giáo theo Hiến chương, Điều lệ của từng tổ chức.

Sự hiện diện của pháp luật chỉ nhằm mục đích bảo vệ trật tự công cộng, đạo đức xã hội và sức khỏe cộng đồng. Thực tế đã chứng minh: Trong những năm qua, số lượng các cơ sở thờ tự được xây mới, các lễ hội quy mô quốc tế như Vesak được tổ chức thành công, và sự gia tăng số lượng tín đồ là những con số biết nói, đập tan mọi sự suy diễn thiếu thiện chí.

Trong bối cảnh thông tin "thật giả lẫn lộn" trên không gian mạng, sự tỉnh táo của mỗi cá nhân là vũ khí sắc bén nhất. Cảnh giác với thông tin giật gân: Những nội dung cắt ghép, suy diễn không có căn cứ pháp lý thường dùng ngôn từ kích động, đánh vào cảm xúc; Kiểm chứng từ nguồn chính thống: Mọi thông tin về pháp luật cần được đối chiếu trực tiếp từ văn bản luật đã được công bố trên các cổng thông tin của Quốc hội, Chính phủ; Thượng tôn pháp luật: Hiểu rằng tự do tôn giáo luôn đi đôi với trách nhiệm công dân. Một xã hội ổn định, đoàn kết chính là môi trường tốt nhất để tôn giáo phát triển bền vững.

Thực tế tại Việt Nam đã chứng minh: Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo luôn được bảo đảm bằng hiến pháp và thực thi nghiêm túc. Mọi nỗ lực xuyên tạc chỉ là những hành vi lạc lõng, không thể phủ nhận được những thành tựu mà Nhà nước và các tôn giáo đang cùng nhau xây dựng./.

Thế Văn

12/05/2026

Hiểu đúng về kết quả chuyến thăm Việt Nam của Thủ tướng Nhật Bản
---
Gần đây, một số đối tượng cố tình xuyên tạc chuyến thăm Việt Nam của Thủ tướng Nhật Bản đầu tháng 5/2026, cho rằng ngay sau chuyến thăm, Hà Nội đã “quay xe”, “rút lại kế hoạch cấm xe máy xăng từ 01/7/2026” vì chịu sức ép từ phía Nhật Bản. Đây là cách suy diễn thiếu căn cứ, cố tình bóp méo bản chất vấn đề để gây hoang mang dư luận.

Trước hết, cần hiểu đúng về nội dung dự thảo Đề án vùng phát thải thấp. Thông tin chính xác là Hà Nội không dừng lưu thông toàn bộ xe máy xăng cá nhân trong vùng phát thải thấp theo hình thức 24/7 ngay từ ngày 1/7/2026; mà dự kiến áp dụng biện pháp dừng lưu thông theo khung giờ đối với xe mô tô, xe gắn máy sử dụng nhiên liệu hóa thạch trong phạm vi vùng phát thải thấp. Như vậy, rõ ràng không có sự “tác động” như các đối tượng xuyên tạc, mà đây là lộ trình đã dự kiến từ trước, tránh những tác động tiêu cực đến đời sống của người dân.
https://tienphong.vn/ha-noi-lam-ro-thong-tin-cam-toan-bo-xe-chay-xang-tu-17-tai-vung-loi-hoan-kiem-post1841706.tpo

Thứ hai, luận điệu cho rằng “Nhật Bản gây sức ép vì lo ngại ảnh hưởng đến thị trường xe máy Honda” hoàn toàn không có cơ sở. Chuyến thăm của Thủ tướng Nhật Bản nhằm thúc đẩy quan hệ hợp tác chiến lược toàn diện giữa hai nước, tập trung mở rộng sang các lĩnh vực mới về chuyển đổi số, chuyển đổi năng lượng, chuyển đổi xanh, bán dẫn, AI… gắn liền với thế mạnh của Nhật Bản về khoa học công nghệ. Thế nên, chính kết quả này đã phản ánh chiêu trò “tự đánh trống tự la làng”, xuyên tạc của các đối tượng.

Thứ ba, Việt Nam là quốc gia đang phát triển, mọi chính sách lớn liên quan trực tiếp đến đời sống nhân dân đều cần được triển khai theo lộ trình phù hợp, bảo đảm hài hòa giữa mục tiêu phát triển bền vững và quyền lợi chính đáng của người dân. Những vấn đề chưa có tiền lệ càng phải được nghiên cứu kỹ lưỡng, điều chỉnh linh hoạt trong quá trình thực hiện để đạt hiệu quả cao nhất.

Bởi vậy, việc một số đối tượng cố tình gán ghép, suy diễn vô căn cứ rồi quy chụp rằng “chính sách thay đổi chỉ sau một chuyến thăm ngoại giao” thực chất chỉ là chiêu trò nhằm xuyên tạc, gây nghi ngờ vào sự điều hành của Đảng, Nhà nước và chia rẽ lòng tin của nhân dân.

Nam Cao

12/05/2026

Góc nhìn của những kẻ xuyên tạc

Trong kỷ nguyên số, mạng xã hội không còn là một thế giới tách biệt mà đã trở thành phần mở rộng của đời sống thực. Tuy nhiên, sự phát triển của Internet cũng kéo theo những mặt trái, mà điển hình là vấn nạn bạo lực ngôn từ và hành vi nói xấu, bôi nhọ danh dự người khác trên không gian mạng. Trước thực trạng này, các quy định pháp luật về an ninh mạng đã ra đời. Nhiều người thắc mắc về mục đích của luật này, nhưng thực tế, nó không phải là rào cản tự do, mà là lá chắn cần thiết để bảo vệ những giá trị nhân văn cốt lõi trong tình hình mới.

Trong thời đại mạng xã hội phát triển mạnh mẽ, mỗi cá nhân đều có thể trở thành một công dân số chỉ bằng một chiếc điện thoại thông minh hay máy tính có kết nối internet. Điều đó mở ra cơ hội lớn cho quyền tự do bày tỏ quan điểm, phản biện xã hội và giám sát các vấn đề cộng đồng. Tuy nhiên, cùng với mặt tích cực ấy là sự bùng nổ của tin giả, thông tin bóp méo và những nội dung kích động cảm xúc nhằm dẫn dắt dư luận của các thế lực thù địch. Chính vì vậy, việc xây dựng cơ chế kiểm soát thông tin sai sự thật là điều cần thiết đối với bất kỳ quốc gia nào. Thế nhưng hiện nay, có quan điểm cho rằng mọi biện pháp chống tin giả đều nhằm “bịt miệng người dân” hay bảo vệ Lãnh đạo hơn bảo vệ nhân dân. Đây là cách nhìn phiến diện và thiếu cơ sở.

Trước hết, cần phân biệt rõ giữa phản biện và xuyên tạc. Phản biện là quyền chính đáng của công dân trong một xã hội hiện đại. Người dân có quyền góp ý chính sách, chất vấn cách quản lý hay bày tỏ sự không đồng tình trước các quyết định chưa hợp lý. Một xã hội phát triển không thể thiếu tiếng nói phản biện. Tuy nhiên, phản biện không đồng nghĩa với việc được quyền bịa đặt, vu khống hay lan truyền thông tin chưa kiểm chứng. Khi một cá nhân cố tình dựng chuyện, cắt ghép thông tin hoặc tung tin thất thiệt để công kích tổ chức, cá nhân hay gây hoang mang xã hội, đó không còn là tự do ngôn luận, mà là hành vi gây hại cho cộng đồng.

Từ lâu, không ít người dùng mạng xã hội vẫn giữ tư duy lệch lạc rằng mạng xã hội là "vùng đất không luật pháp", nơi họ có thể ẩn danh. Luật an ninh mạng 2025 ra đời giúp xóa bỏ tư duy này và định hướng người dùng đến việc phê bình một cách xây dựng thay vì tung tin sai sự thật, từ đó thanh lọc không gian mạng khỏi những luồng thông tin độc hại.

Trong thời gian gần đây các thế lực thù địch đang lợi dụng các trang mạng xã hội tuyên truyền những thông tin sai sự thật về các đồng chí Lãnh đạo đảng, để từ đó bôi nhọ, lôi kéo những thành phần bất mãn, cơ hội tiến hành công kích nhằm hạ uy tín những người đứng đầu đất nước để chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc. Trên thực tế, nhiều năm qua, công tác phòng chống tham nhũng vẫn được triển khai mạnh mẽ với hàng loạt vụ án lớn được đưa ra xét xử công khai, kể cả đối với cán bộ cấp cao. Nếu chỉ nhằm “bảo vệ hình ảnh”, sẽ không có chuyện nhiều quan chức bị xử lý nghiêm minh trước pháp luật với tinh thần "không có vùng cấm, không có ngoại lệ".

Vì vậy, bảo vệ quyền phản biện không đồng nghĩa với việc dung túng cho xuyên tạc, và chống tin giả cũng không đồng nghĩa với việc bóp nghẹt tiếng nói của người dân. Là những cư dân số thông minh, chúng ta cần hiểu rằng mỗi nút "Enter" hay mỗi dòng trạng thái đều mang theo sức nặng của trách nhiệm. Hãy để bàn phím là nơi lan tỏa tri thức và sự tử tế, thay vì biến nó thành công cụ để các thế lực thù địch lợi dụng lôi kéo, dụ dỗ, kích động.
----------------
Khai Tâm

12/05/2026

CẤM XE XĂNG AI HƯỞNG LỢI?
———
Trên các nền tảng mạng xã hội thời gian gần đây xuất hiện quan điểm cho rằng: “Cấm xe xăng thì ai được hưởng lợi nhất? Dân chắc chắn là bên chịu thiệt, nên đừng nói vì dân nên cấm xe xăng.” Đây là cách nhìn phiến diện, chỉ tập trung vào khó khăn trước mắt mà bỏ qua lợi ích lâu dài đối với sức khỏe cộng đồng, môi trường sống và sự phát triển bền vững của đất nước. Cần nhìn nhận vấn đề một cách khách quan, toàn diện để tránh bị dẫn dắt bởi những luận điệu cực đoan, gây hoang mang dư luận.

Trước hết, cần khẳng định rằng chủ trương hạn chế tiến tới thay thế phương tiện sử dụng nhiên liệu hóa thạch không phải là vấn đề riêng của Việt Nam mà là xu hướng toàn cầu. Nhiều quốc gia phát triển như Na Uy, Anh, Pháp hay Trung Quốc đã xây dựng lộ trình giảm dần xe sử dụng xăng dầu nhằm giảm phát thải khí nhà kính, cải thiện chất lượng không khí và bảo vệ sức khỏe người dân. Đây là yêu cầu tất yếu trong bối cảnh ô nhiễm môi trường và biến đổi khí hậu ngày càng nghiêm trọng.

Quan điểm cho rằng “dân là người chịu thiệt” là nhận định thiếu toàn diện. Đúng là trong giai đoạn chuyển đổi, một bộ phận người dân có thể gặp khó khăn về chi phí thay đổi phương tiện, hạ tầng sạc điện hoặc thói quen sử dụng. Tuy nhiên, về lâu dài, chính người dân mới là đối tượng hưởng lợi lớn nhất. Không khí sạch hơn đồng nghĩa với việc giảm các bệnh liên quan đến hô hấp, tim mạch; môi trường sống ít tiếng ồn hơn; chi phí nhiên liệu và bảo dưỡng phương tiện điện cũng có xu hướng thấp hơn so với xe xăng truyền thống.

Nếu tiếp tục duy trì số lượng lớn xe xăng trong các đô thị đông đúc, hậu quả mà người dân phải gánh chịu sẽ còn nặng nề hơn: ô nhiễm không khí, ùn tắc giao thông, chi phí y tế gia tăng và chất lượng cuộc sống suy giảm. Khi đó, người chịu thiệt không phải ai khác mà chính là cộng đồng xã hội, đặc biệt là trẻ em và người cao tuổi.

Một số ý kiến cố tình đánh đồng việc hạn chế xe xăng với việc “ép dân mua xe điện để doanh nghiệp hưởng lợi”. Thực tế, bất kỳ quá trình chuyển đổi công nghệ nào cũng tạo ra cơ hội cho doanh nghiệp phát triển, nhưng điều đó không có nghĩa chính sách chỉ phục vụ lợi ích doanh nghiệp. Khi điện thoại thông minh thay thế điện thoại phổ thông, khi giao dịch số thay thế thủ tục giấy tờ, hay khi năng lượng tái tạo được khuyến khích phát triển, doanh nghiệp đều hưởng lợi ở mức độ nhất định. Điều quan trọng là xã hội nhận được gì từ sự chuyển đổi đó. Nếu chính sách giúp giảm ô nhiễm, nâng cao chất lượng sống và thúc đẩy nền kinh tế xanh thì lợi ích cuối cùng vẫn thuộc về nhân dân và quốc gia.

Cũng cần thấy rằng Nhà nước không thực hiện việc “cấm ngay lập tức” một cách cực đoan, mà thường triển khai theo lộ trình phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội. Việc chuyển đổi cần đi kèm các chính sách hỗ trợ như phát triển giao thông công cộng, mở rộng hạ tầng sạc điện, hỗ trợ người dân đổi phương tiện và bảo đảm giá thành phù hợp. Đây là cách làm hài hòa giữa yêu cầu phát triển và quyền lợi của người dân.

Những luận điệu phủ nhận hoàn toàn chủ trương giảm xe xăng thường khai thác tâm lý lo ngại của người dân để kích động sự phản đối, tạo tâm lý tiêu cực đối với các chính sách môi trường. Tuy nhiên, trong bối cảnh thế giới đang hướng tới phát triển xanh và giảm phát thải, việc đổi mới phương tiện giao thông là xu hướng tất yếu, không thể trì hoãn mãi.

Có thể khẳng định rằng, mục tiêu hạn chế xe xăng không phải để “làm khó dân” mà nhằm xây dựng môi trường sống an toàn, văn minh và bền vững hơn cho chính người dân hôm nay và các thế hệ mai sau. Điều cần thiết hiện nay không phải là phủ nhận cực đoan, mà là cùng đóng góp ý kiến để quá trình chuyển đổi được thực hiện hợp lý, hiệu quả và bảo đảm hài hòa lợi ích của toàn xã hội.
Tuấn - 08

Address

Phan Chu Trinh, Kon Tum
Quang Ngai
570000

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when MỘT VÒNG QUẢNG NGÃI posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share