AN PHƯỚC

AN PHƯỚC
Thành phố Hồ Chí Minh
(2)

MỘT NỬA HỒN QUÊNửa đời phiêu bạt mưu sinh Nửa đời ta gửi hồn mình vào quê.Bon chen thành thị trăm nghề Lọc lừa đã nếm, u...
22/05/2026

MỘT NỬA HỒN QUÊ

Nửa đời phiêu bạt mưu sinh
Nửa đời ta gửi hồn mình vào quê.

Bon chen thành thị trăm nghề
Lọc lừa đã nếm, u mê đã từng.

Đất gần mặt, trời sát lưng
Mẹ ta đang cấy, mây đừng đi chơi.

Gió ơi đừng vội về trời
Mà sang đây thổi, mát nơi cánh đồng.

Bao ngày “gạo chợ, nước sông”
Từ thương nước lợ, sang đồng nước chua.

Mặn mòi tôm, tép, ốc, cua...
Người mua phần xác, ta mua phần hồn.

Tìm về “cắt rốn, nhau chôn”
Là tìm lại nửa mảnh hồn người quê.

Nắng vàng còn rải bờ đê
Ta đi kịp gánh nắng về đầy sân.

Lê Hồng Phúc
Ảnh minh họa

22/05/2026

Bác Hồ dạy chúng ta rằng,
Hiếu cha kính mẹ – muôn phần chớ quên.
Công ơn như núi vững bền,
Như sông biển rộng, như nền trời cao.

Sớm hôm chăm sóc dạt dào,
Lời thưa tiếng gửi ngọt ngào hiền ngoan.
Đi xa vẫn nhớ quê nhà,
Nhớ cha, nhớ mẹ thiết tha nghĩa tình.

Làm người trước phải có tâm,
Hiếu là gốc rễ âm thầm nuôi ta.
Nghe lời Bác dạy thiết tha,
Gia đình êm ấm, nước nhà vững yên.

ĐÔI MẮT NGƯỜI LÀ NẮNG ẤM TRONG TIMMười một tuổi đầu Người đã phải mồ côiThêm em nhỏ lại không còn nữaKhi cha về  thăm ôn...
22/05/2026

ĐÔI MẮT NGƯỜI LÀ
NẮNG ẤM TRONG TIM

Mười một tuổi đầu Người đã phải mồ côi
Thêm em nhỏ lại không còn nữa
Khi cha về thăm ông bà nhà cửa
Nước mắt người, hay Huế đổ mưa sa?
Cha đón về, Người lênh đênh theo cha
Đi khắp nẻo trên quê hương đất Việt
Chứng kiến bao khổ đau, nên Người biết
Dân đói nghèo do Nước bị xâm lăng...
Trái tim Người nghe tiếng khóc non sông
Dân cơ hàn, oằn mình tìm sự sống
Nước mắt người rơi, tấm lòng trải rộng
Nghe mọi miền đau, ngẫm lại càng thương.
Dân thì nghèo nhưng quan lại địa phương
Cùng thực dân thì vô cùng giầu có
Không thể để cho dân mình mãi khổ
Đêm Người nằm trằn trọc suốt canh thâu.
Giải phóng quê hương, phải bắt đầu từ đâu?
Rút kinh nghiệm từ tiền nhân đi trước
Ánh sáng tự do không thể nào thấy được
Mà chỉ thêm đau cho Tổ quốc, quê nhà...
Đất nước muốn hòa bình, dân tộc muốn tự do
Người suy nghĩ con đường nào có thể
Nuốt lệ vào tim Người rời xa đất mẹ
Tìm con đường ở khắp tự năm châu.
Trong đêm trường Người thấy bóng cờ sao
Luận cương Lê-Nin chói ngời chân lý
Tìm thấy đường cho non sông kỳ vĩ
Thoát gông cùm, đứng dậy giũ bùn đen.
Đôi mắt người là nắng ấm trong tim
Cho cháu con kề vai nhau tiếp bước
Là niềm tin không gì thay thế được
Ánh sáng dẫn đường... Tổ quốc bay cao.

Vũ Tuấn

TÂM HỒN MẸ ĐẸP MÃI NGÀN NĂM SAU Nhớ sao bóng Mẹ bên đènCanh khuya dệt cửi đã quen thức ròngRu con cho trọn giấc nồngNắng...
22/05/2026

TÂM HỒN MẸ
ĐẸP MÃI NGÀN NĂM SAU

Nhớ sao bóng Mẹ bên đèn
Canh khuya dệt cửi đã quen thức ròng
Ru con cho trọn giấc nồng
Nắng mưa, sương gió Mẹ không ngại ngần.
Đường làng in dấu đôi chân
Chợ xa Mẹ tới, đồng gần cũng qua
Vẫn đôi quang gánh "kĩa cà"
Lặn lội vào Huế nuôi Cha học hành.
Sớm hôm bươn chải một mình
Bao nhiêu vất vả, nghĩa tình thêm sâu
Mình Mẹ ôm nỗi đớn đau
Ba mươi ba tuổi... để sầu dương gian.
Đời Mẹ như một đóa sen
Vượt lên gian khó ngát thơm nồng nàn
Mẹ ơi! Sen nở lại tàn
Tâm hồn Mẹ đẹp mãi ngàn năm sau !

Nguyễn Thị Tính

“VỊ TƯỚNG HUYỀN THOẠI” CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam trải qua nhiều cuộc chiến...
22/05/2026

“VỊ TƯỚNG HUYỀN THOẠI”
CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM

Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam trải qua nhiều cuộc chiến tranh chống xâm lược và quân dân ta đã lập nên những chiến công hiển hách; qua đó đã xuất hiện những danh tướng lẫy lừng. Một trong số đó là Đại tướng Võ Nguyên Giáp-“Vị tướng huyền thoại” của dân tộc ta.
Trong “Lịch triều hiến chương loại chí” của Phan Huy Chú có viết: Các vị tướng đạt đến bậc “đại danh tướng” trong lịch sử dân tộc, đó là: Lý Thường Kiệt, Trần Quốc Tuấn và Nguyễn Huệ.
Đến thế kỷ 20, trong thời đại Hồ Chí Minh, mẫu mực thứ tư để hợp thành “tứ đại danh tướng Việt Nam” là Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Nếu như trong bộ ba nhân tướng thời trung cổ, vị Quốc công Tiết chế Trần Hưng Đạo đã được nhân dân suy tôn thành “Đức Thánh Trần” thì ở thế kỷ 20, “Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp cùng với đại võ công Điện Biên Phủ năm 1954 đã được suy tôn là “Vị tướng huyền thoại”(1).
Trước hết, từ thầy giáo dạy lịch sử trở thành người chỉ huy quân sự. Có một câu hỏi mà chỉ có Chủ tịch Hồ Chí Minh mới lý giải một cách thấu đáo, đó là: Vì sao Người chọn Võ Nguyên Giáp - thầy giáo dạy lịch sử ở Trường Tư thục Thăng Long, về dung mạo thuộc hàng “bạch diện thư sinh” đảm nhiệm việc thành lập tổ chức quân sự và chỉ huy quân sự, trong khi ở thời kỳ đó, có hàng chục học viên Việt Nam tốt nghiệp Trường Quân sự Hoàng Phố (Trung Quốc) được đào tạo cơ bản về quân sự! Và ngay từ lần gặp đầu tiên năm 1940, tại Côn Minh (Trung Quốc), Nguyễn Ái Quốc đã nhìn thấy ở Võ Nguyên Giáp những dấu hiệu của một thiên tài quân sự và tin tưởng giao cho Võ Nguyên Giáp nhiệm vụ chỉ huy quân sự của cách mạng Việt Nam; đồng thời Người căn dặn Võ Nguyên Giáp “Phải tranh thủ học tập về quân sự”(2), quyết định giao cho Võ Nguyên Giáp việc thành lập và chỉ huy Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân vào ngày 22-12-1944. Đây là sự kiện đánh dấu và quyết định đến sự nghiệp chỉ huy quân sự của Võ Nguyên Giáp.
Thứ hai, Võ Nguyên Giáp là vị chỉ huy được phong quân hàm duy nhất chỉ có một lần-cấp hàm Đại tướng. Sau chiến dịch Đông Bắc năm 1947 giành thắng lợi, ngày 20-1-1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 110-SL phong quân hàm Đại tướng cho Võ Nguyên Giáp-Tổng chỉ huy Quân đội quốc gia và Dân quân tự vệ. Đây không chỉ là trọng trách mà Đảng, Nhà nước giao cho mà còn là sự tin tưởng vào tài năng, đức độ, “văn-võ song toàn”, có đầy đủ phẩm chất, nhân cách một người làm “Tướng”. Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Trao cho chú chức vụ Đại tướng để chú điều khiển binh sĩ làm tròn sứ mạng mà quốc dân phó thác cho”; và “Trong quân đội, nhiệm vụ của người tướng là phải “trí, dũng, nhân, tín, liêm, trung”(3). Những lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thấm sâu vào trái tim, khối óc và hành động cách mạng suốt cuộc đời của Đại tướng Võ Nguyên Giáp.
Thứ ba, trong hơn 30 năm là Tổng tư lệnh, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã chỉ huy Quân đội nhân dân Việt Nam cùng nhân dân ta đánh thắng các đội quân xâm lược của chủ nghĩa phát xít, thực dân, đế quốc, giành độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Dưới quyền chỉ huy của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, quân và dân ta đánh bại quân xâm lược của phát xít Nhật, để giành chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Sau đó, đánh thắng thực dân Pháp, kết thúc bằng Chiến dịch Điện Biên Phủ-được đối phương coi là tập đoàn cứ điểm “bất khả xâm phạm”. Điều cần nhấn mạnh là, được Chủ tịch Hồ Chí Minh giao nhiệm vụ: “Trận này quan trọng, phải đánh cho thắng. Chắc thắng mới đánh, không chắc thắng, không đánh”(4), Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã ra nhiều quyết định quan trọng, trong đó có quyết định khó khăn nhất trong cuộc đời làm tướng của mình là chuyển phương châm Chiến dịch Điện Biên Phủ từ “đánh nhanh, thắng nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc”, quyết tâm tiêu diệt địch ở Điện Biên Phủ. Chính quyết định ấy đã góp phần làm nên Chiến thắng Điện Biên Phủ “chấn động địa cầu”, lập lại hòa bình ở miền Bắc nước ta.
Hiệp định Geneva ký kết chưa được bao lâu thì đế quốc Mỹ hất cẳng thực dân Pháp xâm lược nước ta, đặt ách thống trị kiểu thực dân mới, buộc nhân dân ta phải tiếp tục cuộc kháng chiến mới, gay go, ác liệt hơn. Với ý chí quyết tâm “Không có gì quý hơn độc lập tự do”, được Đảng, Nhà nước, Bác Hồ tiếp tục giao nhiệm vụ chỉ huy Quân đội ta, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã cùng Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng lãnh đạo, chỉ huy toàn dân, toàn quân ta lần lượt đánh thắng các chiến lược chiến tranh của đế quốc Mỹ và chính quyền tay sai, đặc biệt là chiến thắng "Điện Biên phủ trên không" năm 1972 và chiến thắng vĩ đại mùa xuân năm 1975, đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã buộc nhiều viên đại tướng của Pháp, Mỹ phải hứng chịu thất bại ở Việt Nam. Đây không chỉ là chiến công lẫy lừng của quân và dân ta mà còn là sự kiện nổi bật trong lịch sử chiến tranh ở thế kỷ 20.
Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, dù trên cương vị nào được Đảng, Nhà nước giao cho, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đều dồn hết tâm sức, trí tuệ và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Và điều đặc biệt là, Võ Nguyên Giáp được nhân dân vinh danh là "Đại tướng của nhân dân"; được cán bộ, chiến sĩ trong toàn quân gọi với cái tên trìu mến: “Anh Cả” của Quân đội nhân dân Việt Nam-điều hiếm gặp trên thế giới!
Thứ tư, cuộc đời và sự nghiệp của Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã để lại cho quân và dân ta, nhất là các tướng lĩnh, sĩ quan quân đội “cẩm nang”, “sách gối đầu giường” qua những tác phẩm tổng kết hai cuộc chiến tranh thần thánh của dân tộc mà Đại tướng là vị chỉ huy tài ba, lỗi lạc và đã giành chiến thắng. Tiêu biểu trong kháng chiến chống Pháp là những tác phẩm: “Phát động du kích chiến tranh”, “Tiến mạnh sang giai đoạn mới”, “Chiến tranh giải phóng và Quân đội nhân dân-ba giai đoạn chiến lược”. Với kháng chiến chống Mỹ, Đại tướng đã viết nhiều tác phẩm bàn về lực lượng vũ trang nhân dân, chiến tranh nhân dân, quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, chiến tranh nhân dân trên địa bàn sông nước... Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa từ năm 1975, Đại tướng có điều kiện nhìn nhận, đánh giá những vấn đề thuộc về chiến tranh giải phóng, chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, nghiên cứu sâu tư tưởng Hồ Chí Minh, nghệ thuật quân sự Việt Nam... và hàng loạt tác phẩm, hồi ký như: “Từ nhân dân mà ra”, “Chiến đấu trong vòng vây”, “Đường tới Điện Biên Phủ”, “Điện Biên Phủ điểm hẹn lịch sử”, “Tổng hành dinh trong mùa Xuân toàn thắng”, “Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam”... Điều đó càng chứng tỏ phẩm chất “văn-võ song toàn” của Đại tướng, đúng như Giáo sư Vũ Khiêu đã viết: “Võ công truyền Quốc sử/ Văn đức quán nhân tâm”.
Thứ năm, Đại tướng Võ Nguyên Giáp vĩnh biệt thế giới vào lúc 18 giờ 9 phút ngày 4-10-2013, để lại nỗi tiếc thương vô hạn với đồng bào, chiến sĩ cả nước và bạn bè quốc tế; là sự mất mát to lớn đối với Đảng, Nhà nước, nhân dân và cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang nhân dân. Giáo sư Vũ Khiêu viếng Đại tướng Võ Nguyên Giáp với lòng tiếc thương và cảm phục vô hạn: “Gương rọi đất trời rực sáng ngàn thu nhân lại trí/ Lệ tràn sông núi khóc than hai bác Võ như Hồ”! Giáo sư sử học Lê Văn Lan viết: “Mùa thu năm 2013, lịch sử thời hiện đại lại đang chứng kiến một điều huyền diệu: Bậc Nhân tướng thời đại Hồ Chí Minh họ Võ-khi được lập ban thờ ở khắp nơi, được các động tác thực hành tín ngưỡng và những lời lẽ nguyện cầu của rất nhiều người suy tôn thành kính... cũng đang “hóa thánh” và “hiển thánh”, đang hóa thân thành bậc Thánh tướng thời hiện đại”(5).
Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước, trở thành mẫu mực thứ tư trong “Tứ đại danh tướng Việt Nam”, là “Vị tướng huyền thoại” của dân tộc Việt Nam. Kỷ niệm 110 năm Ngày sinh Đại tướng là dịp để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta ôn lại công lao, tài năng, đức độ của người cộng sản kiên trung, mẫu mực, học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người “Anh Cả” của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam. Với lòng kính trọng và ngưỡng mộ của các thế hệ Bộ đội Cụ Hồ dành cho Đại tướng, mỗi cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội ta nguyện phấn đấu không ngừng theo tấm gương của Đại tướng, quyết tâm xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại theo phương hướng, mục tiêu Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng đã xác định, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó.

BỘ ĐỘI VỀ LÀNG Các anh điNgày ấy đã lâu rồiXóm làng tôi còn nhớ mãiCác anh điBao giờ trở lạiXóm làng tôi trai gái vẫn ch...
21/05/2026

BỘ ĐỘI VỀ LÀNG

Các anh đi
Ngày ấy đã lâu rồi
Xóm làng tôi còn nhớ mãi
Các anh đi
Bao giờ trở lại
Xóm làng tôi trai gái vẫn chờ mong
Làng tôi nghèo
Nho nhỏ bên sông
Gió bấc lạnh lùng
Thổi vào mái rạ
Làng tôi nghèo
Gió mưa tơi tả
Trai gái trong làng vất vả ngược xuôi
Các anh về mái ấm nhà vui
Tiếng hát câu cười
Rộn ràng xóm nhỏ
Các anh về tưng bừng trước ngõ
Lớp đàn em hớn hở theo sau
Mẹ già bịn rịn áo nâu
Vui đàn con nhỏ rừng sâu mới về
Từ lưng đèo
Dốc núi mù che
Các anh về
Xôn xao làng tôi bé nhỏ
Nhà lá đơn sơ
Nhưng tấm lòng rộng mở
Nồi cơm nấu dở
Bát nước chè xanh
Ngồi vui kể chuyện tâm tình bên nhau
Anh giờ đánh giặc nơi đâu
Chiềng Vàng, Vụ Bản, hay vào Trị Thiên
Làng tôi thắng lợi vụ chiêm
Lúa thêm xanh ngọn, khoai lên thắm vồng
Giảm tô hai vụ vừa xong
Đêm đêm ánh đuốc dân công rực đường
Dẫu rằng núi gió đèo sương
So anh máu nhuộm chiến trường thấm chi
Bấm tay tính buổi anh đi
Mẹ thường vẫn nhắc: biết khi nào về?
Lúa xanh xanh ngắt chân đê
Anh đi là để giữ quê quán mình
Cây đa, bến nước, sân đình
Lời thề nhớ buổi mít tinh lên đường
Hoa cau thơm ngát đầu nương
Anh đi là giữ tình thương dạt dào
Các anh đi
Khi nào trở lại
Xóm làng tôi
Trai gái vẫn chờ mong
Chờ mong chiến dịch thành công
Xác thù chất núi bên sông đỏ cờ
Anh đi chín đợi mười chờ
Tin thường thắng trận, bao giờ về anh?

Hoàng Trung Thông.
Tập thơ Quê hương chiến đấu (1955)
Trích đoạn bài thơ Bao giờ trở lại đã được sử dụng trong sách giáo khoa tập đọc cấp I trong nhiều năm.

QUAN TÂM ĐẾN NHÂN DÂNTrong những năm tháng kháng chiến, Hồ Chí Minh luôn hiện diện như một người dân bình dị giữa đời th...
21/05/2026

QUAN TÂM ĐẾN NHÂN DÂN

Trong những năm tháng kháng chiến, Hồ Chí Minh luôn hiện diện như một người dân bình dị giữa đời thường. Bác không chỉ lãnh đạo mà còn trực tiếp tham gia lao động, cùng bà con tát nước, kéo lưới, bắt cá trên những cánh đồng quen thuộc. Hình ảnh Bác ngồi bệt, tay lấm bùn nhưng ánh mắt hiền từ đã để lại ấn tượng sâu sắc. Bác gần gũi, chân thành, luôn quan tâm đến cuộc sống của từng người dân. Chính sự giản dị ấy đã tạo nên niềm tin và sự kính yêu, trở thành nguồn động lực tinh thần to lớn trong thời kỳ gian khó. Hình ảnh Bác hòa mình cùng nhân dân mãi là biểu tượng đẹp của tình cảm gắn bó, keo sơn giữa lãnh tụ và nhân dân.
❤❤❤⭐❤❤❤

THẮT LƯNG CỦA BÁC! Thời kỳ đó là tháng 6-1954. Sau chiến thắng Điện Biên chấn động địa cầu, Thủ tướng Phạm Văn Đồng dẫn ...
21/05/2026

THẮT LƯNG CỦA BÁC!

Thời kỳ đó là tháng 6-1954. Sau chiến thắng Điện Biên chấn động địa cầu, Thủ tướng Phạm Văn Đồng dẫn đầu đoàn đại biểu Việt Nam tới Genève để đàm phán. Hội nghị kéo dài được gần một tháng thì các bên tạm nghỉ để về nước báo cáo lập trường các bên cho chính phủ mình.

Phía Trung Quốc đã mời phái đoàn Việt Nam sang Trung Quốc để trao đổi. Phái đoàn Việt Nam do Bác Hồ và đại tướng Võ Nguyên Giáp dẫn đầu.

Hôm đó, Bác Hồ nghỉ tạm tại nhà nghỉ đảng bộ Đảng Cộng sản Trung Quốc tại Quảng Tây. Sáng Bác Hồ đi họp. Ở nhà, một đồng chí của bạn đi kiểm tra phòng Bác xem các đồng chí phục vụ phòng có chu đáo không. Sau khi kiểm tra một lượt, đồng chí này thấy trên sàn nhà một mảnh vải đã cũ, dài khoảng 80cm, rộng khoảng 10cm, màu vàng đã bạc. Đồng chí này cầm lên xem, không hiểu là vật gì. Đoán đây là dây gói tài liệu rớt ra sau khi cầm tài liệu đi, đồng chí này bỏ mảnh vải vào thùng đựng giấy rác.

Bác đi họp về, hỏi: "Thắt lưng của tôi đâu? Tôi thường để sau ghế tựa nên bị rơi xuống đất". Mọi người tìm và đưa lại cho Bác.
Một chiếc thắt lưng bằng da, bằng dây dù... cũng không đắt hơn một miếng vải là bao. Nhưng vấn đề ở đây: cái quý báu trong nhân cách của Bác là tính cách luôn hi sinh, cái riêng bao giờ cũng là tối thiểu, cái dành cho sự nghiệp chung bao giờ cũng được ưu tiên tối đa. Phẩm chất trong sáng thể hiện thường trực trong những cử chỉ của Bác, dù nhỏ nhất.

Thời điểm đó, sau chiến dịch Điện Biên Phủ, thắt lưng chiến lợi phẩm thu được rất nhiều, nhưng Bác vẫn chỉ tiếp tục dùng chiếc thắt lưng quen thuộc cũ kỹ của mình.

Theo lời kể của Nguyễn Lương Minh Tuệ.
Ảnh: Người cởi trần tắm suối, tự giặt quần áo rồi phơi trên cây sào, tại núi rừng Việt Bắc trong những năm tháng kháng chiến, chống Pháp của dân tộc ta.

HÃY SỐNG NHƯ ANH                Có những phút làm nên lịch sử. Có những cái chết hóa thành bất tử. Có những lời hơn mọi ...
21/05/2026

HÃY SỐNG NHƯ ANH

Có những phút làm nên lịch sử.
Có những cái chết hóa thành bất tử.
Có những lời hơn mọi bài ca.
Có con người từ chân lý sinh ra.

Nguyễn Văn Trỗi!
Anh đã chết rồi.
Anh còn sống mãi.
Chết như sống, Anh hùng vĩ đại.

Hỡi người anh đã khép chặt đôi môi.
Tiếng anh hô "hãy nhớ lấy lời tôi!"
Đã vang dội và ánh đôi mắt sáng.
Của anh đã chói ngời trên báo Đảng.

Nghìn năm sau sẽ nhớ lại hôm qua.
Một sáng mùa thu, giữa khám Chí Hoà.
Anh đi giữa hai tên gác ngục.
Và sau chúng một người linh mục.

Anh bước lên nhức nhói chân đau.
Dáng hiên ngang vẫn ngẩng cao đầu.
Quần áo trắng một màu thanh khiết.
Thân gầy yếu mạnh hơn cái chết.

Bầy giết thuê là lũ viết thuê
Hai hàng đen, súng cắm lưỡi lê.
Anh bước tới, mắt nhìn bình thản.
Như chính anh là người xử án.

Cỏ trong vườn mát dưới chân anh.
Đời vẫn tươi màu lá rau xanh.
Đây miếng đất của anh đòi giải phóng.
Đây máu thịt của anh đòi cuộc sống.

Anh thét to, ta có tội gì đây?
Chúng trói anh vào cọc mấy vòng dây.
Mười họng súng, một băng đen bịt mắt.
Anh thét lên "chính Mỹ kia là giặc".

Và tay anh giật phăng chiếc băng đen.
Anh muốn thiêu, bằng mắt, lũ đê hèn.
Với cái chết anh muốn nhìn giáp mặt.
Như ngọn lửa không bao giờ dập tắt.

Chúng run lên, xông trói chặt anh hơn.
Đôi mắt anh đã khô cháy căm hờn.
Phải chiến đấu như một người Cộng sản.
Trái tim lớn không sợ gì súng đạn!

Lệnh:
Hàng đầu quỳ xuống! Một giây thôi.

Anh thét lớn "hãy nhớ lấy lời tôi".
Đả đảo đế quốc Mỹ!
Đả đảo Nguyễn Khánh!

Hồ Chí Minh muôn năm!
Hồ Chí Minh muôn năm!
Hồ Chí Minh muôn năm!

Phút giây thiêng, anh gọi Bác ba lần!
Súng đã nổ, mười viên đạn mỹ
Anh gục xuống. Không, anh thẳng dậy.
Anh hãy còn hô: "Việt Nam muôn năm!"

Máu tim anh, nhuộm đỏ đất anh nằm.
Mắt đã nhắm không một lời rên rỉ.
Anh chết vậy, như thiên thần yên nghỉ.
Chẳng cần đâu, cây thánh giá sắt tây.

Của tay người linh mục, ném bên thây!
Anh đã chết, anh Trỗi ơi có biết!
Du kích quân Ca-ra-cát đã vì anh.
Bắt một tên giặc Mỹ giữa đô thành.

Anh đã chết, anh chẳng còn thấy nữa.
Lửa kêu lửa, giữa miền Nam rực lửa.
Như trái tim anh, ôi lửa nào bằng.
Phút cuối cùng, chói lọi khối sao băng.

Hãy nhớ lấy lời tôi!
Nguyễn Văn Trỗi!
Lời nh dặn, chúng tôi xin ghi nhớ!
Hãy sống chết quang vinh.
Trước kẻ thù không sợ.
Vì Tổ quốc hy sinh.
Như lời anh, người thợ!
———
Trích “Hãy nhớ lấy lời tôi” – (Tố Hữu -23/10/1964)

✳️ Nguyễn Văn Trỗi sinh ngày 01/02/1940 tại xã Điện Thắng, huyện Điện bàn, tỉnh Quảng Nam, anh tham gia hoạt động cách mạng, bị địch bắt và tra tấn, không khai thác được gì ở nơi anh, bọn chúng điên cuồng đem anh đi xử bắn vào ngày 15/10/1964. Anh là một người Cộng sản kiên trung, người Anh hùng của cả dân tộc Việt Nam, mãi ngàn đời ghi nhớ tên tuổi của anh với những câu nói đanh như thép không chịu khuất phục trước mặt kẻ thù.

"Đả đảo đế quốc Mỹ
Đả đảo Nguyễn Khánh".

Phút thiêng liêng anh gọi Bác 3 lần
"Hồ Chí Minh muôn năm.
Hồ Chí Minh muôn năm.
Hồ Chí Minh muôn năm. "

Ảnh: Nguyễn Văn Trỗi hiên ngang ra pháp trường.
P/s: Hãy cùng lan tỏa tấm gương anh dũng, kiên cường, khí chất của Anh hùng Nguyễn Văn Trỗi.

VẺ ĐẸP BẤT TỬ“CÓ GIỎI THÌ LÀM, MÀY ĐỪNG HÙ, ĐỪNG HÒNG TAO KHAI”Vẻ đẹp bất tử của chị Lê Thị Ngọc Tiến – người nữ chiến s...
21/05/2026

VẺ ĐẸP BẤT TỬ

“CÓ GIỎI THÌ LÀM, MÀY ĐỪNG HÙ, ĐỪNG HÒNG TAO KHAI”

Vẻ đẹp bất tử của chị Lê Thị Ngọc Tiến – người nữ chiến sĩ đã giữ trọn khí tiết kiên trung với đất nước. Chị hy sinh khi vừa tròn 21 tuổi.

Chị Lê Thị Ngọc Tiến sinh năm 1952 ở chiến khu Đồng Tháp, sinh sống tại ấp Quang Thọ, xã Quơn Long, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang. Chị tham gia cách mạng từ năm 16 tuổi. Đầu năm 1969, chị về công tác tại đơn vị quân y thuộc bệnh xá 2 ở Chợ Gạo.

Năm 1972, địch tàn sát dã man cán bộ cách mạng và nhân dân ta. Sáng ngày 16-4-1972, lực lượng lính bảo an quận Chợ Gạo do tên quận phó trực tiếp chỉ huy càn vào địa hình khu vực trạm xá, chị Tiến và một nữ đồng chí khác bị phát hiện khi đang trú ẩn dưới hầm bí mật. Hai chị bị địch bắt, tra tấn và làm nhục dã man.

5 giờ sáng ngày 17-4-1972, thằng Son, trung đội trưởng thám báo ác ôn khét tiếng giở thủ đoạn dã man cuối cùng. Nó hằn học dọa: “Mổ bụng ra để xem lá gan mày bao lớn”. Nhìn cái dao lê Mỹ xanh lè ánh thép mà thằng Son cầm trên tay, rồi nhìn thẳng vào mặt nó, chị dõng dạc thách thức:

“CÓ GIỎI THÌ LÀM, MÀY ĐỪNG HÙ, ĐỪNG HÒNG TAO KHAI”.

Thằng Son như bị quất roi vào mặt, nó thọc dao mổ bụng, moi lá gan chị. Sau đó chúng mang xác chị ra cây me gần đường treo lên và thông báo để thân nhân đến nhận xác. Gia đình chị Tiến đã phải nộp 28.000 đồng mới được mang xác chị về.

Chú Đức Phương, thương binh cụt 1 chân, người qua trạm chuyến đầu tiên kể lại về chị Tiến:

- Chưa 4 giờ sáng nó đã dậy nấu cơm, giặt giũ, thay băng, tiêm thuốc cho thương binh xong đã 9 - 10 giờ; ăn uống một chút, lại thấy nó vận quần cụt lội tát mương bắt cua, bắt cá. Có bữa nước ròng mà nửa đêm nó cũng thức dậy đi ra rạch mò hến, bắt nghêu cho thương binh ăn; có bữa về rửa chân chưa kịp sạch, buồn ngủ, để vậy chui vô mùng… ngày này qua tháng khác.

- To xác gì cho cam, vóc dáng cao được chừng hơn thước rưỡi, vậy mà lúc cần nó đưa lưng cõng thương binh đi te te. Anh Hai Bài, nguyên Phó Giám đốc Công an tỉnh Tiền Giang còn nói hóm hỉnh: “Nó xóc nách thương binh đi như ẵm em”. Ra dân mua gạo, vác gần cả giạ gạo về đến rạch Bà Lọ (Giang Quới) không có xuồng, nó đội gạo trên đầu lội qua rạch. Thiếu dịch truyền, nó leo dừa như con sóc, bẻ dừa cắn vào miệng tuột xuống lấy nước dừa truyền cho thương binh. Còn chuyện đánh giặc, nó “lì” hơn đất cục, lựu đạn ít khi nào gài, đợi lính tới nó mới chọi. Nó bảo: “Có ít lựu đạn, chọi như vậy mới xát thương được nhiều địch…”.

Ổn định xong trạm ở Giang Quới, hướng mở tiếp một điểm nữa ở trong rừng cây Giá (thuộc xã Thừa Đức cũng của huyện Bình Đại), là nơi tình hình khá ổn để nuôi dưỡng lâu dài những thương binh nặng không còn khả năng chiến đấu. Từ Giang Quới xuống Thừa Đức phải đi hơn 7 tiếng đồng hồ bằng xuồng, lách giặc trên sông Tiền mà đi, thế nhưng chị Tiến luôn đi - về, lo chu toàn cho cả 2 điểm trạm, lại còn là đầu mối lo mua thuốc men tiếp ứng cho quân - dân y bên huyện Chợ Gạo thời ấy.

Trong lúc bươn chải lo lắng cho hàng chục thương binh ở tỉnh Bến Tre, bỗng chị như quặn thắt khi nghe tin người yêu của chị là anh Nguyễn Văn Lượm, y tá cùng đơn vị bên Chợ Gạo lúc lo cho những thương binh đã bị giặc bắn hy sinh.

Người trưởng trạm Lê Thị Ngọc Tiến hy sinh bất khuất khi tuổi đời vừa tròn hai mươi mốt. Năm 2010, nữ liệt sĩ đã được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân Việt Nam, xứng đáng là ngôi sao sáng của ngành Quân - Dân y, là những người cộng sản, người thầy thuốc Việt Nam.

Ảnh: Bảo tàng Phụ Nữ

“NGƯỜI CÁCH MẠNG MẪU MỰC”“Người cách mạng mẫu mực phải khiêm tốn, khoan hòa, lượng thứ, can đảm khi sa cơ, bình tĩnh khi...
21/05/2026

“NGƯỜI CÁCH MẠNG MẪU MỰC”

“Người cách mạng mẫu mực phải khiêm tốn, khoan hòa, lượng thứ, can đảm khi sa cơ, bình tĩnh khi thắng thế, không bao giờ được quên rằng cuộc đời mình và sự nghiệp của mình thuộc về toàn nhân loại chứ không thuộc về mình” (1).

Nguyễn Ái Quốc viết bài “Người cách mạng mẫu mực”, đăng trên báo Thanh Niên, số 61, năm 1926. Bài viết nêu 12 điều đòi hỏi ở một người cách mạng, bao quát các mặt về lý tưởng, về tinh thần hy sinh, về phẩm chất đạo đức, về phương pháp công tác. Người nhấn mạnh: Sự nghiệp cách mạng rộng lớn và khó thực hiện; nó không thể do một người hay một nhà làm mà tốt được. Cách mạng của các nòi giống có mục đích là giải phóng các dân tộc yếu, sau tiến lên làm cách mạng thế giới, sẽ giải phóng toàn nhân loại khỏi ách đế quốc chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa.

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên – những người cách mạng suốt đời phấn đấu vì mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Theo Bác, người cách mạng mẫu mực trước hết phải là người có đạo đức cách mạng. Bởi “không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”, có đạo đức cách mạng thì khi gặp khó khăn, gian khổ, thất bại cũng không sợ sệt, rụt rè, lùi bước. Vì lợi ích chung của Đảng, của cách mạng, của giai cấp, của dân tộc và của loài người mà không ngần ngại hy sinh tất cả lợi ích riêng của cá nhân mình. Khi cần, thì sẵn sàng hy sinh cả tính mạng của mình cũng không tiếc. Đó là biểu hiện rất rõ rệt, cao quý của đạo đức cách mạng.

Thấm nhuần tư tưởng về vị trí, vai trò của đạo đức cách mạng theo tư tưởng Hồ Chí Minh, các thế hệ cán bộ, đảng viên của Đảng đã luôn phát huy tốt tính tiền phong gương mẫu, trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, giành độc lập tự do, thống nhất đất nước, đã có rất nhiều cán bộ, đảng viên bất chấp mọi hiểm nguy, gian khổ, sẵn sàng hy sinh thân mình vì độc lập, tự do cho Tổ quốc. Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng tiếp tục phát huy tính tiền phong gương mẫu trên mọi lĩnh vực công tác đã góp phần làm nên những thành tựu bước đầu rất quan trọng của công cuộc đổi mới.

Quân đội nhân dân Việt Nam được Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp tổ chức, lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện, luôn luôn khắc ghi lời dạy của Người về phẩm chất đạo đức của người cán bộ, đảng viên, trung với nước, hiếu với dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng, xứng đáng với niềm tin yêu của Đảng, Nhà nước và nhân dân, với danh hiệu cao quý “Bộ đội Cụ Hồ”. Mỗi cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân phải thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, nhân cách theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh mới trở thành người quân nhân kiểu mẫu, thật sự xứng đáng là người quân nhân cách mạng của một Quân đội anh hùng.

QĐND
(1). Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, t.2

Address

Ben Cat

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when AN PHƯỚC posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Business

Send a message to AN PHƯỚC:

Share