22/12/2022
MỘT VỤ KIỆN TRỜI ƠI ĐẤT HỠI
Vào một ngày đẹp trời cuối tháng 9-2009, Giám đốc Công ty South Shipping (SSP)- một chủ tàu nhỏ ở TP HCM sở hữu duy nhất tàu biển S-1 trọng tải 4.000T, khi đang nhâm nhi lý cà phê với một khách hàng, thì hết sức ngạc nhiên khi được văn thư trình một trát đòi nợ gần 200.000 USD của một doanh nghiệp lạ hoắc, tên là BQT, gửi từ Hoa Kỳ tới. Trát đòi nợ của BQT còn nhấn mạnh nếu SSP không trả nợ ngay thì tàu S-1 có thể bị bắt giữ ở bất cứ cảng nào mà nó ghé vào,kể vả ở Việt Nam. Toàn bộ nhân viên Cty SSP được chỉ thị lục tìm kỹ trong máy tính và hồ sơ giấy tờ xem có giao dịch mua bán hàng hóa hay dịch vụ nào với BQT không. Sau mấy ngày tìm kiếm cẩn thận các phòng ban đều báo cáo không hề biết người đòi nợ BQT là ai, vì vậy, Cty SSP đã thẳng thừng từ chối khoản nợ vô lý trên. Thực tế Cty SSP mới bắt đầu tham gia kinh doanh vận tải biển quốc tế từ đầu năm 2008 bằng cách cho một thương nhân Hàn Quốc (TNHQ) thuê định hạn tàu này kinh daonh vận chuyển hàng bằng bách hóa ở khu vực Châu Á. Hợp đồng quy định TNHQ phải tự trang trải tiền mua nhiên liệu (Fuel Oil) chạy máy tàu trong thời gian thuê. Sau này, qua Văn phòng luật sư D&A ở Hà Nội của BQT chỉ định để yêu cầu SPP trả khoản tiền trên, SSP mới vỡ lẽ hóa ra trong thời gian thuê định hạn, TNHQ có mua của công ty CEN, một doanh nghiệp khác cũng ở Hàn Quốc chuyên kinh doanh loại nhiên liệu này, gần 250T dầu chạy máy tàu với giá tiền trên và đã thanh toán đầy đủ. Thực tế CEN đã mua số dầu trên từ chi nhánh BQT ở Singapore để cấp cho tàu S-1 khi ghé vào đây lấy hàng. Trong hợp đồng bán dầu, phía BQT đơn phương áp đặt ghi vào ô “người mua” không chỉ là CEN mà còn liên đới bao gồm cả bản thân Con tàu, Thuyền trưởng, Chủ tàu, người quản lý tàu, Người thuê tàu và những ai thực thi quyền chủ tàu (Disponent Owners). Sở dĩ BQT truy đòi SSP vì, trong cơn bão khủng hoảng tài chính 2008-2009, CEN đã vỡ nợ không trả cho họ số tiền trên nên, dựa vào quy định đơn phương trong hợp đồng giữa BQT với CEN, họ yêu cầu SSP phải thanh toán khoản nợ này. Hợp đồng bán dầu của BQT quy định mọi tranh chấp, nếu có, do tòa án Mỹ xét xử theo Luật Mỹ.
Đầu tháng 9/2009, khi biết tàu S-1 đang dỡ hàng ở một cảng Nhật, BQT đã yêu cầu tòa án Nhật ra lệnh bắt giữ tàu và khởi kiện SSP tại tòa án Nhật để đòi khoản tiền trên. Nhật tin này, SSP khá ngạc nhiên và có phần bỡ ngỡ vì chưa có nhiều kinh nghiệm kinh doanh hàng hải quốc tế và chưa hề đối mặt với những kiểu kiện tụng xa lạ, phức tạp đầy rắc rối phát sinh từ những chế định luật hàng hải lắt léo khó hiểu như thế này. Xuất phát từ phương châm “tránh voi chẳng xấu mặt nào”, SSP ngỏ ý chia sẻ với BQT một phần mười của số tiền trên để họ tìm đúng đối tượng cần kiện. SSP khẳng định đây chỉ là một cử chỉ thiện chí hữu nghị, hoàn toàn không phải là một sự thừa nhận trách nhiệm pháp lý. Rất lấy làm tiếc BQT đã bỏ qua thiện chí của SSP và nhất quyết thúc giục tòa án Nhật khởi sự.
Hiểu rằng đây là cuộc chiến “châu chấu đá voi” song không còn lựa chọn nào khác, SSP bắt buộc phải chỉ định một luật sư hàng hải của Việt Nam phối hợp với luật sư Nhật để hầu kiện. Từ tháng 11/2009 đến thấng 4/2010 lần lượt 8 phiên tòa đã được mở ra để nghe luật sư hai bên tranh tụng. Do tính chất phức tạp, lắt léo và rắc rối của một vụ kiện về hàng hải, từ phiên thứ tư trở đi phải thay thẩm phán khác và đến những phiên tiếp theo xuất hiện tới 3 thẩm phán để phán xử, một hiện tượng ít khi xảy ra trong lịch sử tố tụng dân sự của tòa án Nhật. Phía BQT hùng hồn khẳng định vụ kiện này chỉ có thể táp dụng luật Mỹ để xét xử chứ không thể áp dụng luật bất cứ nước nào khác. Theo Luật Mỹ, BQT có quyền áp dụng chế định kiện bản thân con tàu (Action in Rem) cũng như chế định quyền cầm giữ hàng hải (Maritime Lien) để bắt giữ tàu và quy kết trách nhiệm của SSP. Dựa vào định nghĩa đơn phương có tính áp đặt một chiều của mình về “người mua” như trên trong hợp đồng bán dầu, họ khẳng định giữa họ và SSP có tồn tại hợp đồng mua bán dầu, hơn thế nữa phiếu nhận dầu ở Singapore mà Thuyền trưởng ký vào cùng với hóa đơn đều là bằng chứng của hợp đồng giữa họ và SSP. Ngoài ra BQT còn cho rằng thương nhân CEN là đại lý môi giới của SSP trong việc mua dầu, một khi đại lý môi giới không trả được nợ thì người Chủ sự (Principal) phải trả nợ thay.
Đáp lại, phía luật sư SSP cho rằng theo luật Nhật (nơi tàu bị bắt), luật Singapore (nơi bán dầu cho tàu) và luật Việt Nam (luật cờ tàu), trong vụ việc này không tồn tại bất cứ một hợp đồng mua bán dầu nào giữa BQT và SSP vì vậy không có cơ sở pháp lý để BQT thực thi quyền cấm giữ hàng hải nhằm bắt giữ đòi SSP bồi thường. Ngay cả trường hợp áp dụng luật Mỹ (luật án lệ) thì tình hình cũng tương tự. Việc BQT liệt kê SSP cùng bản thân Con tàu cũng như thuyền trưởng là “Người mua liên đới” trong hợp đồng giữa họ với CEN là việc làm tùy tiện, đơn phương, một chiều và đây chỉ là thỏa thuận riêng giữa BQT và CEN, hoàn toàn không có giá trị pháp lý ràng buộc SSP. Nếu đúng như BQT lập luận rằng giữa họ và SSP tồn tại hợp đồng mua bán dầu thì chí ít hai bên cũng phải có một vài chứng cứ ban đầu như Email, Fax hay điện thoại trao đi đổi lại về việc mua dầu trước khi xác nhận chính thức. Hơn thế nữa, tại sao sau khi cấp dầu cho tàu S-1 ở Singapore họ không hề gửi hóa đơn cho SSP để đòi tiền mà chỉ khi bị thất thu từ CEN mới quay sang yêu cầu SSP thanh toán. Bản thân phiếu nhận dầu mà Thuyền trưởng ký vào cũng chỉ nói lên rằng Thuyền trưởng đã nhận một số lượng dầu theo đúng, các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật quy định, không có bất cứ câu chữ nào trong chứng từ này chỉ ra rằng nó là một bộ phận không tách rời của hợp đồng mua bán dầu. Ngay cả hóa đơn cũng không nói rằng nó là một bộ phận của hợp đồng. Ngoài ra BQT cũng không đưa ra được bằng chứng nào nói lên rằng SSP đã ủy quyền cho CEN làm đại lý môi giới mua đầu. Luật sư Việt Nam nhấn mạnh, theo Điều 37 của Bộ luật hàng hải Việt Nam, khiếu nại này của BQT không phải là loại khiếu nại cho phép họ thực hiện quyền cầm giữ hàng hải để bắt giữ tàu và quy định này trong Bộ luật hàng hải Việt Nam cũng hoàn toàn tương đồng với luật hàng hải Singapore, Anh và Mỹ. Tháng 2/2010 luật sư Việt Nam đã cũng cấp cho tòa án Nhật một án lệ năm 2009 của Tòa án Mỹ có nội dung tương đồng (Mỹ là nước áp dụng hệ thống luật án lệ). Theo án lệ đó, cả tòa sơ thẩm lẫn tòa phúc thẩm của Mỹ cũng bác bỏ quyền bắt giữ tàu của ngời bán dầu trong những trường hợp không có hợp đồng mua bán dầu trực tiếp giữa bên bán dầu và chủ tàu (Chi tiết án lệ như attachment kèm theo).
Từ những bằng chứng và lập luận sắc bén, đầy thuyết phục và ít có cơ sở bác bỏ của luật sư phía SSP, đặc biệt là án lệ nói trên, các thẩm phán đã có những câu hỏi hỏi ngụ ý về sự vô lý, mâu thuẫn trong lập luận của BQT. Có lẽ cảm thấy nếu tiếp tục hầu kiện thì phần thua là khó tránh khỏi và vì muốn rút lui trong danh dự nên BQT lại bắn tiếng với SSP đề nghị hai bên dừng kiện. Chẳng lẽ lại ra về tay không nên BQT cũng đề nghị SSP bù đắp cho họ một khoản tiền lớn hơn nhiều so với con số mà SSP đã đề xuất ban dầu. Vì cho rằng “cãi được vạ thì má sẽ sưng” nên SSP đã chấp nhận đề nghị của BQT nhưng chỉ gới hạn ở con số ban đầu 20.000 USD như đã đề cập ở trên. Tất nhiên BQT không có cơ sở nào để mặc cả đòi thêm nên đành đồng ý và cũng phải tự mình chịu mọi án phí ở tòa án Nhật, phía BQT cũng cam kết không bao giờ khiếu nại kiện tụng chống lại SSP trong vụ việc này tại bất cứ tào án nào trên thế giới kể cả ở Việt Nam. Rốt cục thì hai bên đã kết thúc vụ kiện theo cung cách mà các luật sư quốc tế thường nói là “một kết quả thương lượng, dù tồi tệ đến mấy, cũng tốt gấp vạn lần một phán quyết đẹp của tòa án”.
Trên thương trường quốc tế nhiều khi các rủi ro tai họa ập đến từ những chuyện “trời ơi đất hỡi – không tiền khoáng hậu” như trên không phải là hiếm. Vì vậy, khi kinh doanh thương mại và hàng hải quố tế, các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và các chủ tàu Việt Nam nói riêng nếu gặp phải những trường hợp như vụ việc trên đây cần bình tĩnh chủ động tìm hiểu luật pháp quốc tế như vụ việc trên đây cần bình tĩnh chủ động xử lý thỏa đáng. Đừng bao giờ nghĩ rằng mình vô can nên không cần hành động gì. Nếu không biết cách xử lý thích đáng, kịp thời và đúng luật thì không ít trường hợp không những “không cãi được vạ mà má còn sưng to hơn” mặc dầu mình chẳng có tội tình gì.
(LS Võ Nhật Thăng)