Du lịch xã Tả Thanh Oai

Du lịch xã Tả Thanh Oai Contact information, map and directions, contact form, opening hours, services, ratings, photos, videos and announcements from Du lịch xã Tả Thanh Oai, Travel Service, xã Tả Thanh Oai, Thanh Trì, Hanoi.

Nhớ nơi Bác Hồ về tát nước chống hạn.Sinh thời Bác Hồ đã đến rất nhiều nơi làm việc, động viên cán bộ chính quyền địa ph...
28/11/2023

Nhớ nơi Bác Hồ về tát nước chống hạn.
Sinh thời Bác Hồ đã đến rất nhiều nơi làm việc, động viên cán bộ chính quyền địa phương, chiến sĩ và nhân dân thi đua sáng tạo trong chiến đấu, lao động sản xuất. Mùa Xuân năm 1958, chính quyền và người dân xã Tả Thanh Oai, huyện Thanh Trì, Hà Nội đã được vinh dự đón Bác Hồ về thăm.
Gần 60 năm trôi qua, lời căn dặn và hình ảnh Bác xắn quần, lội xuống ruộng tát nước chống hạn cùng bà con và nông dân đọng lại mãi trong tâm trí của các thế hệ người dân nơi đây.
Ông Ngô Mạnh Quyền, người chứng kiến Bác Hồ tát nước và nói chuyện tại cánh đồng Quai Chảo chia sẻ: Chúng tôi rất xúc động và bất ngờ với một lãnh tụ của đất nước mà lại đến với nông dân, tát nước cùng nông dân. Việc làm gần dân của Bác mãi còn giá trị đến bây giờ. Trước khi lên xe, Bác dừng bước căn dặn cán bộ và nông dân trong thôn: “Các cô, các chú tích cực tát nước chống hạn, cấy hết diện tích. Bác chờ thành tích của các cô, các chú báo công lên cho Bác”. Không phụ lời dạy của Bác, cả xã Tả Thanh Oai dấy lên phong trào thi đua lao động sản xuất.
Bức phù điêu Bác Hồ tát nước chống hạn được TP Hà Nội khánh thành năm 2005 chào mừng 995 năm Thăng Long Hà Nội.
Cũng theo ông Quyền: Con kênh năm ấy Bác tát nước luôn khô cạn. Sau khi được Bác động viên, cả xã đã thi đua lao động sản xuất. Điều đầu tiên toàn xã ra quân thực hiện đó là làm thủy lợi nạo vét các kênh mương đã có và đào thêm 1 con kênh chạy giữa cánh đồng Quai Chảo để thuận lợi cho nước vào đồng. Ngay cả con kênh ngày Bác tát nước luôn khô hạn thì nay nước luôn đầy ắp nước tưới tiêu cho cánh đồng Quay Chảo.
Vụ Xuân năm ấy, Tả Thanh Oai có mùa bội thu chưa từng có để báo công với Bác. Nối tiếp vụ Xuân là những vụ sau đó, xã Tả Thanh Oai vừa cấy lúa và gia tăng sản xuất vụ đông trồng khoai, trồng rau màu. Thành quả ấy không chỉ là niềm vui của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân trong xã mà còn góp một phần nhỏ bé động viên phong trào lao động sản xuất toàn miền Bắc, và công cuộc kháng chiến Mỹ cứu nước.
Ông Ngô Mạnh Quyền chia sẻ về ngày Bác về tát nước chống hạn.
Lời dặn của Bác đến nay vẫn được Đảng bộ, chính quyền lấy làm kim chỉ nam trong chỉ đạo nhân dân thi đua lao động sản xuất, hoàn thành sớm mục tiêu xây dựng nông thôn mới.
Ông Nguyễn Tiến Hưng, Chủ tịch UBND xã Tả Thanh Oai, huyện Thanh Trì, Hà Nội nói: Suốt gần 60 năm qua, nhớ việc làm, lời Bác dặn, thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, Đảng bộ, chính quyền xã Tả Thanh Oai không ngừng đổi mới phương pháp lãnh đạo, chỉ đạo nhân dân xây dựng các mô hình kinh tế chuyên canh tạo hiệu quả kinh tế cao, nâng cao giá trị thu nhập trên diện tích đất canh tác.
Cánh đồng Quai Chảo năm xưa nơi Bác tát nước chống hạn đã được dồn điền, đổi thửa, cải tạo đồng ruộng bằng phẳng và cấy lúa chuyên canh chất lượng cao, thực hiện theo chương trình xây dựng nông thôn mới của huyện Thanh Trì và TP Hà Nội. Năm 2015, Tả Thanh Oai đã được TP Hà Nội công nhận là xã đạt được các tiêu chí xây dựng nông thôn mới.
Đường nông thôn đã được hoàn thiện. Cánh đồng Quai Chảo ngày Bác về tát nước nay đã được dồn điền đổi thửa xong cấy lúa chuyên canh hàng hóa.
Ông Nguyễn Hữu Mạnh, cũng từng chứng kiến ngày Bác về quê hướng Tả Thanh Oai tát nước cùng nông dân, chia sẻ: Nếu so sánh ngày đó với bây giờ nông dân sướng nhiều. Nông thôn được thực hiện mô hình xây dựng nông thôn mới đã đổi thay rất nhiều, như đường làng, ngõ xóm, các công trình phúc lợi công cộng với phương châm nhà nước và nhân dân cùng làm, người dân đã rất tích cực tham gia bằng công lao động, đóng góp kinh phí. Năng suất lúa bây giờ toàn trên 250 kg/sào/vụ. Đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân cũng được địa phương chăm lo rất tốt.
Đến cuối năm 2016, thu nhập bình quân đầu người của Tả Thanh Oai đã đạt 38 triệu đồng/người/năm. Cùng với đó là hàng loạt các công trình cơ sở hạ tầng như giao thông nội đồng; giao thông liên thôn, xóm; trường học, nhà văn hóa được cải tạo, nâng cấp, xây mới. Đời sống tinh thần của nhân dân được chăm lo. Thông qua thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, mỗi người dân đều đóng góp công sức xây dựng quê hương như lời Bác dặn.
Những kết quả đạt được của Tả Thanh Oai đó là sự đồng thuận trong lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền; và nhân dân đồng lòng thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, các chủ trương chính sách của Nhà nước.

Lăng mộ và nhà thờ Ngô Thì Nhậm thuộc xã Tả Thanh Oai, huyện Thanh Trì, Hà Nội.Ngô Thì Nhậm sinh ngày 11 tháng chín năm ...
28/11/2023

Lăng mộ và nhà thờ Ngô Thì Nhậm thuộc xã Tả Thanh Oai, huyện Thanh Trì, Hà Nội.
Ngô Thì Nhậm sinh ngày 11 tháng chín năm Bính Dần (1746) tự Hy Doãn, hiệu Đạt Hiên. Khi nghiên cứu Phật học có hiệu là Hải Lượng thiền sư. Ông nội Ngô Thì Nhậm là Ngô Thì Úc; thân sinh là Ngô Thì Sĩ đều là những danh sĩ nổi tiếng. Năm 18 tuổi Ngô Thì Nhậm đã viết cuốn “Nhị thập tứ sử toát yếu” và soạn cuốn “Tứ gia thuyết phể”. Năm 1765 ông đỗ đầu thi hương, năm 1769 đỗ khoa sĩ vọng và được bổ làm Hiến Sát phó sứ Hải Dương. Năm 30 tuổi đỗ đệ Tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân khoa Ất Mùi. Năm 1776 thăng chức giám sát Ngự sử xứ Sơn Nam rồi bổ chức Đốc đồng Kinh Bắc kiêm Đốc đồng Thái Nguyên (triều vua Lê Hiển Tông). Khi Trịnh Khải lên ngôi chúa (1782), ông phải lánh về vùng Thái Bình, Sơn Nam Hạ một thời gian dài.
Năm 1788, Nguyễn Huệ ra Bắc lần thứ hai đã cho người mời ông ra giúp việc. Ông được trọng dụng và làm Tả thị lang Bộ Lại, tước Trình Phái hầu. Sau chiến thắng Kỷ Dậu (1789), ông được thăng từ Thượng thư Bộ Binh lên làm Tổng tài Quốc sử quán và soạn thảo các văn bản ngoại giao, được triều đình cử đi sứ sang Trung Quốc năm 1793. Năm 1796, ông cáo quan trở về lập Thiền viên nghiên cứu triết học và Phật giáo tại phường Bích Câu.
Khi triều Tây Sơn sụp đổ, nhà Nguyễn lên, Ngô Thì Nhậm và em rể là Phan Huy Ích bị đem ra kể tội và đánh đòn tại Văn Miếu. Ông mất ngay sau trận đòn đó ngày 16 tháng hai năm Quý Hợi (1803) lúc 57 tuổi.
Nhà thờ Ngô Thì Nhậm là một ngôi nhà ba gian xây dựng đơn giản. Ở giữa là bàn thờ ông. Gian bên phải đặt một tấm bia lớn do dòng họ sao chép ở Văn Miếu - Quốc Tử Giám ghi việc đỗ đạt của ông. Cách nhà thờ vài chục mét là khu lăng mộ Ngô Thì Nhậm. Trên mộ có gắn ba tấm bia nhỏ nội dung ca ngợi công đức của danh nhân Ngô Thì Nhậm. Di tích còn giữ được một số hiện vật quý như cuốn gia phả của dòng họ Ngô - Ngô Thì, tập “Ngô gia văn phái”, 6 đôi câu đối.
Ngô Thì Nhậm là một danh nhân văn hoá lớn cuối thế kỷ XVIII. Ông đã để lại cho hậu thế nhiều tác phẩm có giá trị.
Lăng mộ và nhà thờ ông đã được Bộ Văn hoá và Thông tin xếp hạng di tích lịch sử, kiến trúc nghệ thuật năm 1994./.

CHÙA BẢO THÁPChùa Bảo tháp (Bảo tháp tự) thuộc thôn Thượng Phúc, xã Tả Thanh Oai, huyện Thanh Trì còn được dân gian gọi ...
28/11/2023

CHÙA BẢO THÁP
Chùa Bảo tháp (Bảo tháp tự) thuộc thôn Thượng Phúc, xã Tả Thanh Oai, huyện Thanh Trì còn được dân gian gọi là chùa Bồ Tát. Chùa được khởi dựng từ cuối đời Lý do vị hoàng thân nhà Lý là Hoàng thúc Lý Thầm (con vua Lý Cao Tông, chú của Lý Chiêu Hoàng) đến lập am và tu, chân thân của Ngài đã hóa thành địa mạch liên hoa.
Theo “Lư sử điển yếu điều lệ” do Ngô Thì Nhậm soạn năm Cảnh Thịnh thứ hai (1794) thì làng Tó được hình thành từ lâu, đến giữa thế kỷ 15 có một bộ phận tù binh người Chiêm Thành bị đày ra đây khai khẩn vùng đất trũng, mở mang làng xóm. Năm 1939, chính quyền thuộc địa Pháp đã cho nắn đoạn sông Nhuệ chảy từ địa phận làng Siêu Quần xuống làng Đan Nhiễm nhằm để nước thoát nhanh vào mùa mưa lũ. Đồng ruộng Thượng Phúc và 16 làng trong vùng này ít bị nạn úng lụt đe dọa hơn. Ngoài làm ruộng, dân làng còn khai thác nguồn thủy sản dồi dào trong đồng và nhiều người lại có nghề buôn bán.
Tương truyền ban đầu chùa là một am nhỏ được xây dựng vào cuối thời Lý cho hoàng thân Lý Thầm về tu hành ở làng Thượng Phúc. Điều này còn được minh chứng qua một số câu đối ở cột đồng trụ của Tam bảo.
Hộ quốc, xuất gia, bát đại thiên hoàng quang Lý diệp
Chân thân hóa Phật, thiên thu địa mạch dũng liên hoa.
Dịch nghĩa
Giúp nước, tu hành dòng dõi tám đời nhà Lý
Chân thân thành Phật, ngàn năm địa mạch đài sen
Thời nhà Trần, năm 1328 có vị cao tăng Hồ Bà Lam là hoàng thân nhà Hồ về tu tại chùa. Ngoài việc tụng kinh niệm Phật sư còn đi thu nhận trẻ mồ côi, cô nhi, quả phụ về nuôi dưỡng. Nhân dân đương thời ca ngợi Ngài là Bồ Tát sống, có câu ca rằng:
Cô nhi quả phụ các nơi
Đến chùa đều được Tổ nuôi hàng ngày
Không cơm mặn thì cơm chay
Nhiều khi Tổ phải đi “vay” nuôi người
Người thứ ba đến tu tại chùa là bà Minh Từ Hoàng Thái hậu Hồ Thuận Nương, cô ruột của Hồ Quý Ly. Bà người huyện Diễn Châu, Nghệ An, lấy vua Trần Minh Tông, sinh ra hai con đều làm vua (Trần Hiến Tông, Trần Nghệ Tông). Bà về đây để tránh nạn quân Chế Bồng Nga tiến đánh và tàn phá Thăng Long. Hòa thượng Bồ Tát đã giao chùa cho Bà, rồi Ngài lập một dàn thiêu, trèo lên đó tụng kinh và sai các đệ tử châm lửa. Lửa cháy rừng rực bốn bề mà hòa thượng vẫn điềm nhiên đọc kinh Đại Tạng rồi toàn thân Ngài hóa thành than. Hôm đó là ngày 14 tháng Tư, nên hàng năm, dân làng và quanh vùng lấy ngày này làm ngày giỗ Tổ chùa. Cho đến ngày nay, dân làng Thượng Phúc và trong vùng vẫn tế hòa thượng bằng bài thơ Nôm thể lục bát.
Tổ ngồi niệm Phật ung dung
Mặc cho lửa cháy tứ tung bốn bề
Dân làng thương khóc thảm thê
Tổ bảo: “Đi về, đừng có khóc thương
Ta lên Cực Lạc Tây Phương
Tháng Tư – Mười Bốn ta thường về đây…”
Sau khi Bồ Tát hỏa thiêu, bà Hoàng Thái hậu trở thành Ni sư trụ trì chùa. Trong hơn ba năm, bà tu sửa chùa, lại xây thêm chùa Phúc Khê. Dân làng Thượng Phúc kính phục Bà, xin được lập sinh từ ở mé trước chùa để thờ phụng sau này. Ba năm sau, có lệnh Bà phải về Kinh đô. Trước lúc về Kinh, Bà Thái hậu mở yến tiệc đãi dân làng vào ngày 16 tháng Hai. Tiệc đang vui thì Thái hậu trúng gió và qua đời.Vua Trần nghe tin, lệnh cho làng Thượng Phúc thờ Thái hậu làm Phúc thần cùng với Bồ Tát, tại cả chùa và đình (được lập về sau).
Lục dương sơ bát thời, Thần giáng phi duy Tây hữu
Tứ nguyệt thập ngũ nhật, Phật thành khởi thị Nam vô
Dịch nghĩa:
(Tháng sáu, ngày tám thần giáng, chẳng phải Tây Trúc mới có
Tháng tư, ngày rằm thành Phật, khởi tự nước Nam)
Ngôi chùa Bảo Tháp tọa lạc trong khuôn viên um tùm cây xanh trên một mảnh đất rộng rãi và cao ráo, mặt quay về hướng Tây nhìn ra sông Nhuệ. Du khách bước qua cổng phụ mới xây sẽ thấy trong sân lớn có một bức tường dài với tam quan kiểu ngũ môn, ở giữa là nếp nhà ba gian khá đơn giản, hai bên có cửa ngách. Sau tam quan là con ngõ lát gạch dẫn khách đi thẳng qua vườn tháp mộ đến tiền đường. Tiền đường rộng 7 gian, cửa bức bàn chen lẫn với ba cửa xây vòm. Bộ vì mái làm theo kiểu “chồng giường kẻ chuyền” với 4 hàng chân cột. Các mảng chạm khắc hoa lá và hoa văn nằm trên các xà nách và kẻ nách. Tại chỗ nối giữa thượng điện trên hai lá gió có chạm khắc một hoạt cảnh hình như mô tả Đường Tăng cùng 3 đồ đệ đi Tây Thiên lấy kinh.
Thượng điện gồm 5 gian với bộ vì kèo bào trơn đóng bén. Sau thượng điện là một sân hậu rộng với hai dãy hành lang, giữa sân có một phương đình với bộ vì làm theo kiểu “chồng giường giá chiêng”. Các kết cấu gỗ trong phương đình đều được chạm nổi tỉ mỉ và chau chuốt bằng hình hoa lá, rồng lá, rồng mây, chim phượng… Trên bộ vì mái của hậu cung có chạm hổ phù, trên cổn nách chạm trùng mai hóa long… Ngoài những công trình trên trong chùa còn có tòa nhà Tổ, trai phòng, nhà Mẫu.
Trong chùa còn giữ được nguyên bản 32 đạo sắc (chủ yếu của miếu Minh từ), cuốn ngọc phả, tấm bia đá năm Quang Thái thứ 3 thời Trần Thuận Tông (1390), bia gỗ “Mộc Bản” khắc bài ký về việc sửa chữa chùa năm Bảo Thái thứ 7 (1726). Ngoài ra còn có quả chuông đồng đúc thời Gia Long (1813) cao 1,15m và khánh đồng đúc thời Thiệu Trị (1843) với kích thước 1,1m,x 1,36m. Hệ thống tượng Phật giáo có 75 pho tượng tròn mang niên đại thế kỷ 19 và tạo tác đẹp, gồm các bộ Tam thế Phật, Quan Âm Nam hải, Di đà Tam tôn, Thập điện Diêm vương, Đức thánh Tổ…
Năm 1990, chùa Bảo Tháp đã được Bộ Văn hóa – Thông tin xếp hạng Di tích kiến trúc nghệ thuật quốc gia.

https://ditichlichsu-vanhoahanoi.com/2017/11/30/chua-bao-thap/
27/11/2023

https://ditichlichsu-vanhoahanoi.com/2017/11/30/chua-bao-thap/

CHÙA BẢO THÁP 30 Tháng Mười Một, 2017 dangsyduc CHÙA Leave a comment Chùa Bảo tháp (Bảo tháp tự) thuộc thôn Thượng Phúc, xã Tả Thanh Oai, huyện Thanh Trì còn được dân gian gọi là chùa Bồ Tát. Chùa được khởi dựng từ cuối đời Lý do vị ho...

http://360.hncity.org/spip.php?article236
27/11/2023

http://360.hncity.org/spip.php?article236

Đình Hoa Xá tức đình làng Tó, WRV4+QP, xã Tả Thanh Oai, H. Thanh Trì, TP Hà Nội. Miếu Minh Ngự Lâu cách đình khoảng 200m. Thờ: vua Lê Hoàn và Bà Chúa (...)

Làng Tả Thanh Oai - Tự hào truyền thống khoa bảng và văn chươngTrong bề dày truyền thống lịch sử - văn hoá được tạo dựng...
27/11/2023

Làng Tả Thanh Oai - Tự hào truyền thống khoa bảng và văn chương
Trong bề dày truyền thống lịch sử - văn hoá được tạo dựng hàng ngàn năm qua kể từ khi được chọn làm “Đế vương của muôn đời”, Thăng Long - Hà Nội có nhiều làng nổi danh với truyền thống hiếu học và khoa bảng. Theo số liệu thống kê cho thấy dưới thời phong kiến, trong 21 làng khoa bảng tiêu biểu của cả nước thì Thăng Long - Hà Nội có 6 làng, trong đó, Tả Thanh Oai là một trong những làng khoa bảng nổi tiếng ở đất kinh kỳ.
Làng Tả Thanh Oai thuộc xã Tả Thanh Oai, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội. Làng có tên nôm là Kẻ Tó, còn gọi là Tó Tả để phân biệt với làng Tó Hữu bên kia sông Nhuệ. Tó Tả là một làng quê nổi danh khoa bảng, văn chương được ghi chép nhiều trong các thư tịch, sách vở và qua nguồn tư liệu Hán - Nôm phong phú còn được lưu giữ tại văn bia, bản khắc gỗ hay gia phả dòng họ. Triều đình phong kiến Việt Nam trước đây quy định làng nào có 10 người trở lên đỗ Tiến sĩ thì đạt danh hiệu làng khoa bảng. Làng Tả Thanh Oai được biết đến là làng khoa bảng với 12 người đỗ đại khoa, gồm 4 Hoàng giáp và 8 Tiến sĩ, có họ Ngô với dòng Ngô gia văn phái và các danh nhân Ngô Thì Sĩ, Ngô Thì Nhậm đã đi vào lịch sử đất nước. Ngoài ra còn có 27 hương cống thời Lê, 10 cử nhân thời Nguyễn. Những người đỗ đại khoa thuộc 4 họ: Nguyễn Khai Khoa, Ngô Vi, Ngô Thì và Nguyễn Thế. Họ Nguyễn Khai Khoa có 3 Tiến sĩ là Nguyễn Chỉ (đỗ năm 1453), Nguyễn Khánh Dung (đỗ năm 1478), Nguyễn Tông Trình (đỗ năm 1754). Họ Ngô Thì (Ngô Thời) có 6 tiến sĩ là: Ngô Tuấn Dị (đỗ năm 1688), Ngô Đình Thạc (đỗ năm 1700), Ngô Đình Chất (em Đình Thạc, đỗ năm 1721), Ngô Thì Sĩ (Hoàng Giáp, đỗ năm1767), Ngô Thì Nhậm (đỗ năm 1775) và Ngô Điền (Hoàng giáp, đỗ năm 1841). Họ Ngô Vi là dòng họ lập ấp đầu tiên, có 2 người đỗ là Ngô Vi Thực (Hoàng giáp, đỗ năm 1691) và Ngô Vi Nho (đỗ năm 1694). Họ Nguyễn Thế có Nguyễn Nha (đỗ năm 1775). Những người đỗ đại khoa của làng Tó có Ngô Đình Thạc làm Tham tụng (Tể tướng), Ngô Đình Chất, Ngô Thì Nhậm làm Thượng thư, 2 người phụng mệnh đi sứ có nhiều đóng góp cho việc ngoại giao của triều đình.
Truyền thống hiếu học và khoa bảng của làng Tả Thanh Oai trước tiên là nhờ có vị trí thuận lợi. Làng Tả Thanh Oai ở sát kinh đô Thăng Long nên việc đi học, đi thi rất thuận lợi. Kinh đô là nơi tập trung nhiều thầy giỏi và trường học lớn, cũng là nơi thu hút học sinh ở khắp các nơi trong cả nước đến học và cũng là nơi mở trường thi đều đặn theo quy định của triều đình. Để có sự thành đạt về khoa bảng, làng Tả Thanh Oai có chế độ khuyến học thoả đáng. Làng dành 40 mẫu ruộng để làm học điền. Người khai khoa đầu tiên của làng Tả Thanh Oai là cụ Nguyễn Chỉ, Đệ nhị Tiến sĩ khoa thi Quý Dậu (1453), đời Vua Lê Nhân Tông. Những người đỗ đạt được trọng vọng. Trong tâm thức của người làng, thế đất của làng phát đạt về mặt học hành nên có ý thức với việc học. Cuốn Lư sử điển yếu điều lệ (soạn năm 1791), viết:“Làng Tả Thanh Oai đất do sông Tô dẫn mạch, miếu do sông Nhuệ bồi cơ, danh đăng khoa giáp, thế phiệt thi thư, quý mà không phú, phần nhiều là sĩ dân sính về đường học, coi là việc hàng đầu...”. Theo các bậc cao niên trong làng, làng có nhiều gò, đống thiêng, tạo ra sự “âm phù” cho dân làng về đường học hành, nổi tiếng với truyền thuyết liên quan đến con trai Thủy Thần vâng mệnh thầy giáo danh tiếng Chu Văn An cứu hạn cho dân, dù mất đi sinh mệnh, nhưng người học trò đã cứu dân và tặng ban cho ngôi làng một “quản bút” phát đường khoa bảng. Đó là quan niệm về thế đất tạo nên sức mạnh tâm lý, tinh thần để người dân làng Tả Thanh Oai quyết chí đi theo con đường học hành, thi cử. Trên thực tế, để có được nhiều người học hành, đỗ đạt còn có những điều kiện khác quan trọng và quyết định, trong đó phải kể đến là truyền thống gia đình, là gia phong mà người dân Tả Thanh Oai luôn có ý thức giữ gìn và phát huy.
Cùng với truyền thống hiếu học và đỗ đạt, Tả Thanh Oai còn được biết đến là ngôi làng văn chương nổi tiếng của kinh thành Thăng Long nói riêng và cả nước nói chung. Các nhà khoa bảng của làng sáng tác ra những tác phẩm văn học lớn, đặc sắc nhất là tác phẩm Ngô gia văn phái (Trường phái văn học nhà họ Ngô). Ngô gia văn phái được viết bằng chữ Hán, phong phú về thể loại, bao gồm: thơ, truyện, ký, tự, biểu, tấu… Hai cha con Ngô Thì Sĩ - Ngô Thì Nhậm là những danh nhân kiệt xuất, học vấn sâu rộng, làm rạng rỡ cho tông phái nhà Nho, vừa là quan văn, vừa là tướng, vừa là nhà sử học, nhà thơ, để lại nhiều tác phẩm có giá trị với thiên tiểu thuyết “Hoàng Lê nhất thống chí” - là bộ tiểu thuyết ký sự lịch sử danh tiếng bậc nhất Việt Nam.
Sau cách mạng tháng Tám năm 1945, làng Tả Thanh Oai vẫn phát huy được bề dày truyền thống hiếu học, khoa bảng và có nhiều đóng góp tích cực cho nền giáo dục của đất nước thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội. Làng Tả Thanh Oai ngày nay có rất nhiều người tốt nghiệp Đại học và cũng là một trong số những làng có nhiều người có học hàm, học vị Giáo sư, Phó Giáo sư, Tiến sĩ, Thạc sỹ có nhiều đóng góp to lớn đối với sự nghiệp phát triển khoa học kỹ thuật, văn hoá, giáo dục của đất nước.
Nhằm lưu giữ và khơi dậy truyền thống hiếu học, khoa bảng, Ban Chấp hành Đảng bộ xã Tả Thanh Oai đã tổ chức biên soạn và xuất bản cuốn sách “Làng khoa bảng Tả Thanh Oai”, phản ánh chân thực, có hệ thống về quá trình hình thành và phát triển của làng khoa bảng Tả Thanh Oai, trong đó nhấn mạnh đến truyền thống hiếu học và khoa bảng, những nét văn hoá, lễ hội, phong tục, các di tích lịch sử - văn hoá của làng, những nhân tố tạo nên truyền thống hiếu học và khoa bảng của làng, trên cơ sở đó nâng cao lòng tự hào về các giá trị lịch sử - văn hoá của quê hương cho cán bộ, Nhân dân, nhất là thế hệ trẻ của làng Tả Thanh Oai để tiếp tục gìn giữ, phát huy truyền thống hiếu học của làng, chinh phục đỉnh cao tri thức và làm rạng danh ngôi làng khoa bảng nổi tiếng “địa nhân linh kiệt”.

Address

Xã Tả Thanh Oai, Thanh Trì
Hanoi

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Du lịch xã Tả Thanh Oai posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share

Category