23/11/2021
Vài nét lịch sử thành Nà Lữ (Na Lữ)
Năm Giáp Thân (864), Cao Biền đem quân đánh An Nam, vua Đường phong Cao Biền làm Tiết độ sứ, cho đắp thành Đại La bên bờ sông Tô Lịch, cùng lúc đó Cao Biền cho xây ở miền núi phía bắc ba thành lớn nữa: Thành Phục Hòa, thành Nà Lữ thuộc Cao Bằng và thành Lạng Sơn thuộc tỉnh Lạng Sơn.
Thế kỷ XI đời vua Lý Thái Tông, niên hiệu Thông Thụy thứ 6 (1039) thủ lĩnh châu Quảng Nguyên hay châu Thảng do Nùng Tồn Phúc tự xưng là Chiêu thánh hoàng đế, đổi tên châu Quảng Nguyên thành nước Trường Sinh, Tồn Phúc đã cho quân xây tiếp thành Nà Lữ và lập thêm cung điện có thành bằng đất bao quanh. Cung điện đó sau này chính là đền vua Lê.
Trong kháng chiến chống quân Minh, Bế Khắc Thiệu là một tù trưởng dân tộc Tày, đã liên kết với Nông Đắc Thái ở Nà Gường - Lam Sơn tổ chức đánh giặc. Sau chiến thắng quân Minh, ông cho quân tu sửa thành Nà Lữ và lập cung điện ở đây.
Đến năm 1589, nhà Mạc chạy lên Cao Bằng, Mạc Kính Cung cùng quân lính chiếm thành Nà Lữ làm cố đô. Sau ba đời sinh sống ở Cao Bằng đến thời Mạc Kính Vũ bị quân Lê - Trịnh đánh bại, nhà Mạc bỏ cung điện và thành Nà Lữ chạy sang Trung Quốc.
Như vậy, thành Nà Lữ được xây dựng qua nhiều thời đại khác nhau. Đầu tiên thành được xây bằng đất, sau này Mạc Kính Cung mới cho xây thành bằng gạch nên nhân dân thường quen gọi thành Nà Nữ là thành nhà Mạc.